Hiển thị các bài đăng có nhãn Tín lý Tổng quát. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tín lý Tổng quát. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2018

ĐỨC TIN VÀ CÁC TÍN BIỂU: SỰ TIẾN TRIỂN VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC TÍN BIỂU TRONG CÁC THẾ KỶ ĐẦU

Thời sự Thần học - Số 58, tháng 11/2012, tr. 75-100

Maria Đinh Thị Sáng. O.P.



Dàn bài:
1. Khái niệm về tín biểu.
2. Các công thức đức tin trong Tân ước.
3. Các tín biểu rửa tội.
4. Tín biểu đạo lý hay thần học.
5. Tín biểu công đồng.
6. Kinh Tin kính trong phụng vụ Thánh lễ.


Thứ Tư, 27 tháng 6, 2018

THẦN HỌC NGÀY NAY: NHỮNG VIỄN TƯỢNG, NGUYÊN TẮC, TIÊU CHUẨN

Thời sự Thần học – Số 56, tháng 5/2012, tr. 180-187

Giới Thiệu Văn Kiện Mới Của Uỷ Ban Thần Học Quốc Tế


Tsth___


Trong số 54 (“Những nguồn mạch thần học”) chúng tôi đã giới thiệu vai trò của Uỷ ban thần học quốc tế, cùng với danh sách các văn kiện đã xuất bản trong vòng 40 năm qua. Ngày 8 tháng 3 năm nay, một thông cáo cho biết một văn kiện vừa được phát hành với tựa đề “Thần học ngày nay: những viễn tượng, nguyên tắc, tiêu chuẩn”. Bản văn được soạn bằng tiếng Anh[1] (khác với văn kiện cuối cùng, bàn về luật tự nhiên, viết bằng tiếng Pháp). Nguồn tin ấy cũng cho biết thêm là Uỷ ban đã bắt đầu công việc soạn thảo từ năm 2004, và như vậy là mất bảy năm mới hoàn thành. Bản văn được bỏ phiếu chấp thuận trong phiên họp ngày 24/11/2011.

Nội dung


Tựa đề của văn kiện đã gợi lên đại cương nội dung của nó. Văn kiện được phân chia làm ba phần: thần học giả thiết việc đón nhận lời Chúa bằng đức tin (chương 1), thi hành công tác trong sự hiệp thông với Giáo hội (chương 2), nhằm trình bày chân lý của Chúa cho con người thời đại bằng ngôn ngữ thích hợp (chương 3).

Bản văn dài gần 40 trang A4, gồm 100 đoạn, với những đề mục chính sau đây:

Nhập đề (số 1-3)

Chương 1 : Lắng nghe Lời Chúa (số 4-5)
  1) Vị thế ưu việt của Lời Chúa: số 5-9.
  2) Đức tin đáp trả Lời Chúa: số 10-15.
  3) Thần học, sự hiểu biết đức tin: số 16-19.

Chương 2 : Cư ngụ trong sự hiệp thông Hội thánh (số 20)
  1) Việc nghiên cứu Kinh thánh như là linh hồn của thần học: số 21-24
  2) Trung thành với Truyền thống các thánh tông đồ: số 25-32.
  3) Chú ý đến sensus fidelium: số 33-36.
  4) Gắn bó có trách nhiệm với huấn quyền của Hội thánh: số 37-44.
  5) Đồng hành với các nhà thần học: 45-50.
  6) Đối thoại với thế giới: số 51-58.

Chương 3 : Thuật lại chân lý của Thiên Chúa (số 59-60).
  1) Chân lý của Thiên Chúa và tính hữu lý của thần học: số 61-73.
  2) Sự duy nhất của thần học trong sự đa dạng về phương pháp và bộ môn: số 74-85.
  3) Khoa học và minh triết: số 86-99

Kết luận (số 100).

Dĩ nhiên là mỗi người đọc sẽ tìm một câu trả lời cho những thắc mắc mà mình mang trong đầu. Một nhà nghiên cứu Kinh thánh muốn biết ảnh hưởng của tông huấn Verbum Domini đã được đón nhận như thế nào, vì thế sẽ tìm hiểu cách riêng mối tương quan giữa thần học với Kinh thánh. Những ai muốn bảo vệ sự tự do nghiên cứu của các nhà thần học sẽ lục lọi những tiêu chuẩn quy định mối tương quan giữa Huấn quyền với các nhà thần học. Một giáo sư về môn nhập môn thần học sẽ mở mục lục của văn kiện, và lướt qua nội dung, để tìm hiểu xem văn kiện này có nói điều gì mới, hay chỉ lặp lại những luận điệu mà ai nấy cũng đã biết. Hơn nữa, khi chấm luận án tiến sĩ có giáo sư không đọc nội dung của luận văn nhưng chỉ thích kiểm tra thư mục và các nguồn trích dẫn, vì thế cũng áp dụng phương pháp đó để khảo sát văn kiện này. Tất cả những lối tiếp cận ấy đều hợp lý, và chắc chắn sẽ tìm được lời giải đáp khi đọc văn kiện. Tuy nhiên, thiết tưởng còn một lối tiếp cận khá thú vị nữa, đó là đặt lên câu hỏi: Văn kiện này được soạn ra cho ai, để làm gì? Đó là câu hỏi được bản tin của đài phát thanh Vatican ngày 9/3 nêu lên đặt ra cha Krzysztof Charamsa, phụ tá tổng thư ký của Uỷ ban. Đây là câu trả lời: văn kiện nhằm hai mục tiêu chính: 1/ Xác định căn cước của môn thần học, khi đối chiếu với những môn khác được giảng dạy tại các đại học, và cụ thể là các “khoa học tôn giáo” (religious sciences). 2/ Xác định một mẫu thức chung cho ngành thần học, giữa những phương thức tiếp cận khác nhau. Ta có thể nói rằng mục tiêu thứ nhất mang tính cách “đối ngoại”; còn mục tiêu thứ hai muốn tạo ra một cuộc đối thoại “đối nội”; nhưng xem ra văn kiện nhắm tới mục tiêu thứ hai nhiều hơn (số 2). Thật vậy, từ sau công đồng Vaticanô II, thần học ý thức hơn về tính đa nguyên của mình bắt nguồn từ những lối tiếp cận do hoàn cảnh văn hóa khác nhau; liệu có thể ra tìm ra một mẫu số chung giữa các khuynh hướng và trường phái thần học không?

Căn tính của thần học


Bàn về căn tính của thần học (số 3), Uỷ ban nhắc lại rằng trong quá khứ vấn đề đã được đề cập trong nhiều văn kiện, chẳng hạn như: “Đức tin duy nhất và thần học đa dạng” (1972), “Tương quan giữa huấn quyền và thần học” (1975), “Việc giải thích tín điều” (1990). Lần này, vấn đề được trình bày cách toàn diện và hệ thống ngay từ chương Một: khởi đi từ những chủ đề căn bản như: mạc khải, đức tin, hiểu biết đức tin; những chủ đề thoạt tiên xem ra rời rạc nhưng thực sự liên kết với nhau trong sứ mạng của thần học. Thần học phát sinh từ chỗ lắng nghe Lời Chúa bằng đức tin, và phục vụ Lời Chúa trong Hội thánh và thế giới. Dưới phương diện này, văn kiện không thể nói điều gì khác hơn những gì đã được chấp nhận từ bao nhiêu thế kỷ qua. Thần học phải dựa theo những “tiêu chuẩn” (criteria) của môn học, quen được gọi là “nơi thần học” (loci theologici)[2], đó là: 1/ Lời Chúa được đón nhận bằng đức tin. Ở đây đức tin không chỉ hiểu theo nghĩa như là niềm xác tín cá nhân (fides qua), nhưng nhất là như lời tuyên xưng của cộng đoàn Hội thánh (fides quae). Điều này dẫn đến tiêu chuẩn thứ hai: 2/ Hội thánh. Mặc dù Hội thánh được quy tụ bởi Lời Chúa, nhưng chúng ta biết được Lời Chúa là nhờ chứng tá của Hội thánh. Đây là thực chất của vấn đề liên hệ hỗ tương giữa Thánh kinh và Thánh truyền. Nói cho cùng, Thánh truyền chính là chứng tích uy tín trong việc giải thích Kinh thánh, đó là: Truyền thống các thánh tông đồ (gồm cả các giáo phụ), Huấn quyền với nhiều cấp bậc. Một điều đáng ghi nhận là văn kiện này đã xen “sensus fidelium” vào giữa Truyền thống các tông đồ và Huấn quyền. Nên biết là nguyên bản tiếng Anh giữ nguyên thành ngữ sensus fidei, sensus fidelium bằng tiếng Latinh (dựa theo Hiến chế Lumen gentium) có lẽ vì muốn tránh sự hàm hồ của các từ ngữ của tâm lý học hoặc xã hội học (tựa như: cảm quan đức tin, cảm nghiệm đức tin, ý kiến nhân dân). Thật vậy, thực chất của sensus fidei không phải là cảm nghiệm cá nhân, nhưng là chính đức tin sống động của các tín hữu nhờ tác động của Thánh Linh. Thiết tưởng một vai trò quan trọng của các nhà thần học là khám phá ra “sensus fidei” của Dân Chúa. Dĩ nhiên, nhà thần học cũng là thành phần của Dân Chúa, chứ không phải là quan sát viên từ bên ngoài; như vậy họ cũng thuộc về chủ thể sensus fidelium. Cũng trong khung cảnh của cộng đoàn Dân Chúa, văn kiện nói tới “cộng đồng các thần học gia” dưới nhiều từ ngữ: “company of theologians” (số 45; 50), “theological community” (số 48). Một “locus” nữa là thế giới hôm nay, cụ thể là qua phạm trù “những dấu chỉ thời đại” (số 51)[3].

Gần một nửa văn kiện được dành cho chương Ba, bàn về sứ mạng của thần học trong thời đại hôm nay. Khi nói đến sứ mạng trình bày chân lý của Thiên Chúa, văn kiện có dịp ôn lại những quan điểm lịch sử về tương quan giữa đức tin với lý trí (số 65-72). Bước sang vấn đề sự duy nhất và đa dạng của thần học, văn kiện đã phân tích những lý do đưa đến sự đa dạng (số 76): do tính cách chuyên khoa để đào sâu thêm môn học (chẳng hạn: kinh thánh, phụng vụ, giáo phụ, giáo sử, thần học nền tảng, thần học tín lý, thần học luân lý, thần học mục vụ); do ảnh hưởng của các môn học hoặc triết lý được sử dụng (triết lý, lịch sử, xã hội học, vv); do những bối cảnh khác nhau khi nhắm đến việc thực hành đức tin[4]. Trong sự đa dạng này, người ta nhận thấy cần tìm ra những yếu tố tạo thành một căn bản chung cho thần học. Đây là chỗ bàn đến các tương quan “đối ngoại” của thần học: xác định căn cước của nó đối chiếu với các ngành khác, chẳng hạn như: triết học (số 81-82), các khoa học tôn giáo (số 83-84). Thần học khác biệt với các khoa học tôn giáo ở chỗ thần học là khoa học của đức tin, và nhằm phục vụ đức tin của Giáo hội. Khoa học tôn giáo thì tiếp cận Kitô giáo từ bên ngoài.

Tuy dù nhấn mạnh đến chiều kích khách thể và cộng đồng của công tác thần học, nhưng có lẽ cuối cùng, yếu tố có khả năng tạo ra sự nhất quán của thần học (hoặc của nhà thần học) là đời sống tâm linh, sự kết hiệp huyền nhiệm với Thiên Chúa (số 96-99).

Vài vấn đề


Như đã nói, mỗi người đọc có thể chú ý đến một điểm cụ thể của văn kiện, chẳng hạn như tương quan giữa Lời Chúa và thần học (số 21-24). Một lần nữa, Kinh thánh được nhìn nhận như là “linh hồn” của thần học, nhưng đồng thời văn kiện cũng nói đến những lối giải thích Kinh thánh khác nhau (số 22). Nói rằng Kinh thánh là hồn của thần học, thì phải hiểu rằng tất cả mọi ngành thần học (không những thần học kinh thánh, mà cả thần học tín lý, luân lý, mục vụ) đều cần dựa trên Kinh thánh. Đối lại, khi nói đến việc giải thích Kinh thánh, thì phải hiểu về sự “giải thích thần học” (theological interpretation) chứ không chỉ dừng lại ở nghĩa văn bản. Nói khác đi, cần đọc Kinh thánh dựa trên ba nguyên tắc: a) sự duy nhất của toàn bộ Kinh thánh; b) chứng tá của Truyền thống; c) analogia fidei (xc. Dei Verbum số 12; Verbum Domini số 34).

Một cách tương tự như vậy. Khi nói đến “Thánh Truyền”, cần phân biệt giữa “Truyền thống tông đồ” và các “truyền thống Giáo hội” : có sự khác biệt về cấp độ uy tín (số 31); tuy không nên quên rằng Truyền thống không chỉ giới hạn về đạo lý, nhưng còn bao gồm cả phụng vụ và nếp sống. Ta cũng có thể nói một cách tương tự về Huấn quyền: cần phải phân biệt các cấp độ uy tín. Chỉ có các công đồng hoàn vũ, huấn quyền của toàn thể hàng giám mục, các giáo hoàng mới có thẩm quyền tuyên bố tín điều (số 29). Trên thực tế, những mối căng thẳng giữa các nhà thần học với huấn quyền không phải trong những lãnh vực vừa nói, nhưng ở những cấp thấp hơn, hoặc là với các cơ quan giáo triều hoặc là với các giám mục địa phương. Thực ra vấn đề này đã từng được bàn đến trong một văn kiện của Uỷ ban thần học và một văn kiện của Bộ Giáo lý đức tin[5].

Dù sao thiết tưởng không phải là thừa khi nhắc lại rằng các văn kiện của uỷ ban thần học quốc tế, tuy đã được Tổng trưởng bộ Giáo lý đức tin phê chuẩn, nhưng không phải là một văn kiện của huấn quyền.

Kết luận


Tóm lại, tuy mang tựa đề “Thần học ngày nay” (Theology today), nhưng văn kiện không bàn đến những vấn đề sôi bỏng của thời đại hoặc những trào lưu thần học đương thời. Đúng ra văn kiện muốn nhắc lại những “tiêu chuẩn” để xác định căn tính của thần học “công giáo”, và có thể dùng như sườn để soạn một giáo trình về Nhập môn Thần học.

Để kết thúc, sau khi đã rảo qua nội dung bản văn, thiết tưởng nên lướt qua các trích dẫn. Có tất cả 163 trích dẫn. Hai văn kiện được trích nhiều nhất là Dei Verbum (26 lần) và Verbum Domini (23); kế đó, trong số các giáo phụ, đứng đầu là Augustinô (12 lần), thua thánh Tôma (14 lần). Những văn kiện của huấn quyền liên quan đến thần học được nhắc đến nhiều lần là: Fides et ratio (5 lần), Donum veritatis (7 lần). Các tác giả hiện đại được trưng dẫn là: John Adam Moehler, Newman, de Lubac, Congar (mỗi người 1 lần). Uỷ ban cũng trích dẫn các văn kiện mà mình đã phát hành , cách riêng: về việc giải thích tín điều (5 lần), về tương quan giữa thần học và huấn quyền (6 lần).
_____
[1] Bản văn được đăng trên website của Uỷ ban thần học
[2] Xc. Melchior Cano, De locis theologicis được trích dẫn ở chú thích 28.
[3] Ta có thể xem sáu tiêu đề của chương Hai như là “sáu tiêu chuẩn” của công tác thần học.
[4] Tuy nhiên, sự đa dạng không chỉ tuỳ thuộc vào những điều kiện xã hội mà thôi. Ngay từ đầu (số 2) , văn kiện đã khẳng định rằng “tính duy nhất và đa dạng” nằm ngay trong bản chất của “Mầu nhiệm” phong phú của Đức Kitô cũng như trong bản tính “công giáo” của Hội thánh.
[5] Hai văn kiện được trích dẫn ở chú thích số 82: International Theological Commission, Theses on the Relationship between the Ecclesiastical Magisterium and Theology (1975), Congregation for the Doctrine of the Faith, Instruction on the Ecclesial Vocation of the Theologian “Donum Veritatis” (1990).

Thứ Ba, 16 tháng 5, 2017

THỜI SỰ THẦN HỌC - SỐ 6, THÁNG 11/1996

CHỦ ĐỀ : MẦU NHIỆM THIÊN CHÚA

LỜI NGỎ


Con người từ ngàn xưa vẫn tin tưởng trên đầu mình có một Đấng. Đấng đó phù hộ người thiện, trừng phạt người ác. Mỗi tôn giáo cô gắng dỉễn tả lòng tin thành kính của mình qua những danh xưng mà họ gọi là Đấng đó. Chỉ riêng các tín đồ Hồi giáo đã có tới 99 danh xưng để gọi Chúa của mình. Đấng Allah (còn danh xưng thứ 100 sẽ được mạc khải trong thế giới mai hậu).

Thứ Bảy, 13 tháng 5, 2017

TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC ƠN PHẨM TRẬT VÀ ƠN CHARISMA TRONG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ MẠNG TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI

_Bộ Giáo Lý Đức Tin_

Văn kiện bắt đầu với hai từ Iuvenescit Ecclesia, mang hình thức một bức thư gửi các Giám mục trên thế giới về mối tương quan giữa các ơn phẩm trật và các ơn charisma, được ban hành vào lễ Hiện xuống (15/5/2016).
Bố cục. Văn kiện được chia làm 5 phần, ngoài nhập đề và kết luận.
Nhập đề (số 1-3)
I. Các charisma theo Tân ước (số 4-8)
II. Tương quan giữa ân huệ phẩm trật và ân huệ charisma theo Huấn quyền cận đại (số 9-10)
III. Nền tảng thần học của tương quan giữa các ân huệ phẩm trật và ân huệ charisma (số 11-12)
IV. Tương quan giữa các ân huệ phẩm trật và charisma trong đời sống và sứ mạng của Hội thánh (số 13-18)
V. Tương quan giữa ơn phẩm trật và ơn charisma trong thực hành của Giáo hội (số 19-23)
Kết luận (số 24)

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2016

CHÚA LÀ CHA ! CHÚA LÀ MẸ ! (phần 5)

Thời sự Thần học - Số 37, tháng 09/2004, tr. 5-67

KHẢO LUẬN GỒM 5 PHẦN :

Dom Pierre Miquel 

_______ chuyển ngữ: Nguyễn Hữu Nghị, O.P.

PHẦN NĂM : THẦN HỌC HAY KITÔ HỌC ?


Một Thiên Chúa không có Đức Kitô hay một Đức Kitô không có Thiên Chúa


Người ta có thể nêu lên hai khuynh hướng liên quan đến Thiên Chúa và Đức Kitô. Khuynh hướng thứ nhất coi việc Nhập Thể là không thể tương hợp với siêu việt tính của Thiên Chúa, khuynh hướng này cũng từ chối việc nhìn nhận Con Thiên Chúa trong Đức Kitô.

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2016

CHÚA LÀ CHA ! CHÚA LÀ MẸ ! (phần 4)

Thời sự Thần học - Số 37, tháng 09/2004, tr. 5-67

KHẢO LUẬN GỒM 5 PHẦN :

Dom Pierre Miquel

_______ chuyển ngữ: Nguyễn Hữu Nghị, O.P.


PHẦN IV : CÁI CHẾT CỦA NGƯỜI CHA


Chính khái niệm phụ tử không xuất phát từ một kinh nghiệm khả giác nào đó, lịch sử tôn giáo đã xác nhận điều này:

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2016

CHÚA LÀ CHA ! CHÚA LÀ MẸ ! (phần 3)

Thời sự Thần học - Số 37, tháng 09/2004, tr. 5-67

KHẢO LUẬN GỒM 5 PHẦN :

Dom Pierre Miquel 
_______ chuyển ngữ: Nguyễn Hữu Nghị, O.P.

PHẦN III : NGƯỜI CHA HAY NGƯỜI CON ?


"Giêsu kẻ thoán ngôi Đức Chúa" 
(Ernst Bloch, Le Principe espérance, Gallimard, 1982, p. 1497.)

Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2016

CHÚA LÀ CHA ! CHÚA LÀ MẸ ! (phần 2)

Thời sự Thần học - Số 37, tháng 09/2004, tr. 5-67

KHẢO LUẬN GỒM 5 PHẦN :

Dom Pierre Miquel 

_______ chuyển ngữ: Nguyễn Hữu Nghị, O.P.

PHẦN II : CHA HAY CHỒNG ?


"Người tôi yêu thuộc trọn về tôi
và tôi trọn vẹn thuộc về chàng"
(Dc 2,16)

Thiên Chúa - Người Chồng đã dần dần thay thế Thiên Chúa - Người Cha, hay cùng tồn tại song song.

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2016

CHÚA LÀ CHA ! CHÚA LÀ MẸ ! (phần 1)

Thời sự Thần học - Số 37, tháng 09/2004, tr. 5-67

KHẢO LUẬN GỒM 5 PHẦN :


Dom Pierre Miquel 

_______ chuyển ngữ: Nguyễn Hữu Nghị, O.P.

Trong các tôn giáo, bên cạnh một Thần là Cha thường có một Nữ thần là Mẹ. 

Trong mạc khải Kinh Thánh, Thiên Chúa vừa là Cha lại vừa là Mẹ. Thiên Chúa thường được gọi là Vị Hôn Phu hơn là Thân Phụ. Hiền thê của Thiên Chúa chính là Israel; Hiền thê của Đức Kitô chính là Hội thánh. 

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

THỜI SỰ THẦN HỌC – SỐ 37, THÁNG 09/2004

CHỦ ĐỀ: DANH XƯNG CỦA THIÊN CHÚA

LỜI NGỎ

“Thiên Chúa là Cha, là Mẹ, là Thầy, là Bạn... hay là...” (bản liệt kê là vô tận). Nhưng, theo nhà thần học Henry Lubac, sau khi đã viết lên bảng những danh xưng như thế, phải xóa ngay đi... vì chúng ta chẳng biết thực sự Thiên Chúa là ai. Thật vậy, tìm kiếm và gọi đích danh Thiên Chúa hay Thượng Đế vẫn luôn là một khao khát của suy tư nhân loại từ xưa tới nay. Đây thật là một công việc táo bạo, liều lĩnh : táo bạo vì dám đem lên bàn “mổ xẻ” chính Đấng thần thiêng, liều lĩnh vì có nguy cơ giản lược Thượng Đế thành những hạn từ chật hẹp. Tuy nhiên, nỗi khao khát mãnh liệt dày vò đến độ có thể khoả lấp được những giới hạn vốn có nơi con người.

Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2016

LÒNG THƯƠNG XÓT: KINH THÁNH VÀ THẦN HỌC

Thời sự Thần học - Số 71, tháng 02/2016, tr. 11-44

LTS: Để giúp cho quý độc giả có thêm chất liệu suy tư và sống Năm thánh Lòng Thương Xót, đặc biệt trong mùa Chay này, chúng tôi sẽ lần lượt đăng các bài của Thời sự Thần học số 71, cùng với báo giấy vừa mới phát hành.

Dàn bài


Nhập đề: Misericordia dịch sang tiếng Việt, và chuyển từ tiếng Hípri và Hy Lạp. 
I. Kinh Thánh
  A. Cựu Ước: 1/ Khởi nguyên, 2/ Cuộc xuất hành, 3/ Các thánh vịnh, 4/ Các ngôn sứ.
  B. Tân Ước: 1/ Các sách Tin Mừng, 2/ Các thư Phaolô

Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014

Thứ Tư, 19 tháng 11, 2014

Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014

Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2014

XIN CỨU CHÚNG CON CHO KHỎI SỰ DỮ!

Thời sự Thần học - (số 1) Tháng 3/2010, tr. 9-15

Phương Anh


Đó là một phần của lời cầu nguyện “Kinh Lạy Cha” duy nhất được Đức Giêsu dạy cho các môn đệ (Xc Mátthêu 6,9-13 & Luca 11,2-4). Kinh Lạy Cha là lời cầu nguyện phổ thông và thịnh hành nhất trong Kitô giáo (Chính Thống, Công Giáo, Tin lành, Anh Giáo), và cả nhiều tôn giáo lớn trên thế giới. Người Kitô hữu tuyên đọc mỗi ngày, thậm chí nhiều lần trong một ngày. “Xin cứu chúng con cho khỏi Sự Dữ” là câu kết - như một lời cầu nguyện cần thiết cho con người lữ hành dương gian vốn bị muôn ngàn Sự Dữ vây quanh.

Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014

THỜI SỰ THẦN HỌC – SỐ 1, THÁNG 03/2010

LTS : Cuộc sống con người luôn bị đe doạ bởi sự dữ. Cái chết đối với mỗi người là sự dữ đáng sợ nhất, nó phủ nhận mọi nỗ lực tìm kiếm ý nghĩa đời người trong của cải, tiền tài, danh vọng, v.v.. "Đồ ngốc ! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?" (Lc 12,20). Vậy, còn có hy vọng nào cho con người hay không? "Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? (Rm 7,24). Bước vào Tháng 11 - Cầu nguyện cho các linh hồn, Thời sự Thần học mời các độc giả cùng suy tư về sự dữ và tìm kiếm câu trả lời cho niềm hy vọng của chúng ta.

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

BÀN LUẬN VỀ Ý NGHĨA KHỔ ĐAU THEO QUAN NIỆM CỦA VICTOR E. FRANKL

Thời sự Thần học - Số 31, tháng 3/2003, tr. 54-63

Thanh Tuyền


Victor Edward Frankl là bác sĩ tâm thần và nhà tâm lý trị liệu người Áo (mất vào năm 1997). Ông là người sáng lập ra trường phái phân tích hiện sinh. Thuyết của ông không thuộc về công trình trí thức, nhưng mà được hình thành do sự trải nghiệm của chính bản thân ông trong suốt thời gian kinh hoàng sống trong trại tập trung Đức Quốc Xã của Đệ nhị Thế Chiến II. Nơi đây, ông đã sống và chứng kiến những hành động tàn ác man rợ nhất của con người trong thế giới hiện đại. Frankl thực sự sống với chính những học thuyết của mình. 

Chủ Nhật, 30 tháng 3, 2014

VẤN ĐỀ ĐAU KHỔ TRONG CHIỀU HƯỚNG ĐỐI THOẠI TÔN GIÁO

Thời sự Thần học - Số 31, tháng 3/2003, tr. 64-84

Giải đáp của nhà thần học Hans Küng trước những quan niệm của các tôn giáo: Hồi giáo, Ấn Giáo và Phật giáo


Về linh mục Hans Küng (1928 - )

Sinh tại Thuỵ sĩ, Kung qua Rôma học Thần học cho đến năm 1955. Suốt quãng thời gian này, Kung được may mắn tiếp cận với nhiều nhà thần học lỗi lạc của thế giới. Sau đó Kung qua Pháp và học tiếp cho đến năm 1957. Nơi đây, Kung lấy bằng tiến sĩ sau khi bảo vệ luận án về học thuyết công chính hóa của Karl Barth. Kung được công nhận là nhà trí thức lớn cũng như một nhà thần học Công Giáo nổi tiếng trên thế giới, và là tác giả của rất nhiều đầu sách. Kung là người vận động không biết mỏi mệt cho một Giáo Hội tự do và rộng lượng hơn. Kung được chọn làm chủ tịch của Khoa Thần Học Cơ Yếu tại Đại Học Tubingen, Đức quốc. Thế nhưng Kung rời bỏ công việc nơi đây vì Kung không đồng ý sự lên án của Toà Thánh về tác phẩm của mình; vì thế, Kung chuyển đến làm việc tại Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo Đại Kết mang tính độc lập tại Đại Học Tubingen. Và từ đây, Kung không còn được xem như vị đại biểu chính thức của Thần Học Công Giáo Rôma nữa.
Cha trợ giúp và đóng góp rất nhiều cho việc soạn thảo và đệ trình tư tưởng trong Công Đồng Vatican II (1962-5). Có lẽ sau đó, Giáo Hội Công Giáo Rôma đi vào con đường bảo thủ, mà mỗi lúc càng đẩy Kung xa khỏi con đường chính thức của Giáo Hội Công giáo và đức tin.
Cha mong muốn các nhà thần học trong một thế giới toàn cầu hóa hiện nay xây dựng một nền đạo đức học mang tính toàn cầu hóa. Nếu điều này được diễn ra, thì mỗi niềm tin cần phải khởi sự từ việc tự phê tự đánh giá, vì không ai có thể tiếp cận được chân lý tuyệt đối. Kung cho rằng, chắc chắn sự bình an thế giới cần phải kết hợp chặc chẽ với chiều kích tôn giáo, nên phải có sự bình an giữa các tôn giáo. Vì vậy, dự án hiện nay của Kung là đang tập trung vào công trình nghiên cứu về tính đa luật trong các tôn giáo trên thế giới. Kung hy vọng rằng với một nền đạo đức học toàn cầu sẽ được nảy sinh nhờ vào sự tương tác hỗ tương giữa các tôn giáo với nhau. Kung cho rằng, nền đạo đức học như thế cần phải được đặt nền trên một Đấng “Tuyệt Đối”, chứ không phải trên bất cứ sự gì mà nhân loại có thể sáng tạo hay từ đó mà con người có thể tiếp nhận.
Dù sao đi chăng nữa, chúng ta cũng phải công nhận có một số ý tưởng của Kung đáng cho chúng ta học hỏi, hoặc ít ra cũng là vấn đề thúc đẩy chúng ta suy tư và tìm hiểu, nhất là trên con đường tìm kiếm chân lý của thời đại ngày nay, vốn cần đặt lại nhiều điều hoặc khám phá lối trình bày thần học nào đó sao cho có thể đem Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô cho con người thời đại một cách minh bạch, dễ hiểu và dễ dàng được đón nhận hơn.__________

1. Trước Đạo Hồi


a. Thiên Chúa của Tình Yêu


Phải chăng đạo Kitô có những quan niệm quá cao vời về một vị Thiên Chúa? Có thể đạo Hồi xem ra thiết thực hơn chăng: giáo lý đạo Hồi có tạo sự dễ dàng hơn cho con người hay không? 

Sứ điệp của một vị cho rằng “gánh ta thì êm ái, ách ta thì nhẹ nhàng” thì thật là thiết thực cho con người khi họ phải mang vào bản thân biết bao nỗi thất vọng và suy sụp trên cuộc đời này. Mục đích ở đây là trao ban cho tất cả mọi người không phân biệt một ý nghĩa. Điều này có nghĩa là, không chỉ con người đi trong ánh sáng và niềm vui, nhưng còn là trong đêm tối, khóc than, buồn khổ và vô nghĩa nữa. Tôi có thể gặp gỡ được Người, tôi có thể khám phá được tình yêu chứ không chỉ sự ghét ghen thù hận. Những gì mà triết gia Leibnitz công bố và văn hào Dostoyevsky mơ hồ cảm nhận thì đã được đề cập đến qua nhân vật Gióp và Muhammad, còn bây giờ, nhờ Đấng Chịu Đóng Đinh (người chiến thắng đích thực), tất cả mọi sự đã trở nên thật rõ ràng và chắc chắn: sự sống và cái chết của tôi được Thiên Chúa ôm choàng trọn vẹn; sự sống và cái chết của tôi, cùng với tất cả sự điêu tàn cô quạnh của chúng, sẽ trở nên chốn gặp gỡ với Thiên Chúa. Những tín hữu Kitô vẫn là những con người rất thực tế: Họ biết rằng sẽ chẳng có con đường giải thoát đích thực nào khỏi khổ đau và sự chết, và họ chỉ tin một con đường duy nhất: cho dù có thái độ thực sự bàng quang đi nữa, cuối cùng rồi cũng phải đối diện với khổ đau, cũng cùng cách thế ấy, con người lại phải đấu tranh chống lại khổ đau và mọi căn nguyên của nó cho đến cuối đời.

Hoàn toàn không như cuộc đời và sứ điệp của Muhammad, hình như cuộc đời và sứ vụ của Đức Giêsu, đối với tôi, được trình bày thật rõ ràng. Vị Thiên Chúa ở đây là một vị Thiên Chúa đầy lòng từ bi lân ái (yêu thương nhân loại) và cảm thông (co-suffering = đồng lao cộng khổ), đã “xuống trần thế để sống với chúng ta.” Vị Thiên Chúa ấy đã mạc khải chính mình Ngài trong Đức Giêsu không hoàn toàn mang nhiều tính nam mấy, hay không như một vị Thiên Chúa độc đoán nghiêm khắc mà chúng ta vẫn thường gặp trong Cựu Ước cũng như trong Kinh Qur’an. Hơn thế, đây chính là một vị Thiên Chúa không chỉ cần đến tình yêu mà thôi, nhưng còn muốn trao tặng tình yêu nữa (thậm chí còn ban tặng cho những con người bị mất mát); thế nên Ngài được gọi là “cha” (và chắc chắn cũng có thể gọi là “mẹ” nữa). Đấy là lý do tại sao mọi Kitô hữu cùng chia sẻ niềm xác tín với nhau qua Thánh Kinh Tân Ước (ở đây khác với Kinh Qur’an của đạo Hồi), đó là, Thiên Chúa có tình yêu, và còn hơn thế, Ngài hoàn toàn là tình yêu. Trong Thư Thứ Nhất của thánh Gioan tông đồ, có viết: “Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống” (1 Ga 4,8-9).

Ý niệm về một vị Thiên Chúa như là nguồn cội của tình yêu được đóng vai trò rất ý nghĩa không chỉ trong đạo Hồi qui luật mà còn trong đạo Hồi huyền bí nữa. Chẳng hạn một trong những chứng từ tuyệt vời của đạo Hồi, đó là lời bộc bạch của một nhà huyền bí đạo Hồi tên là Abù Yazìd alBistàmi mà được ghi nhận lại từ một nữ thi sĩ thuộc thế kỷ thứ tám xuất thân từ vùng Basra, lời này do giáo sư Josef van Ess trưng dẫn: “Thoạt tiên tôi mường tượng rằng chính tôi là người đã nghĩ đến Thiên Chúa, đã biết Ngài và yêu mến Ngài. Đến khi đời tôi sắp tàn, tôi chợt nhận ra rằng Ngài đã nghĩ đến tôi trước khi tôi nghĩ đến Ngài, Ngài đã biết tôi trước khi tôi biết Ngài, tình yêu của Ngài có trước tôi, và Ngài đã đi bước trước trong việc tìm kiếm tôi để sau đó tôi mới có thể khám phá được Ngài” (Tor Andrae, Các Nhà Huyền Bí Đạo Hồi, trg. 130).

Có thể chúng ta bàn luận thêm nữa về một số điều cụ thể ở đây giữa tín đồ đạo Hồi và tín hữu đạo Kitô được không? Có lẽ được, vì sự khác biệt giữa thuyết huyền bí và luật lệ, giữa kinh nghiệm và nguyên tắc, giữa đời sống nội tại và đời sống ngoại tại đã tạo nên một căng thẳng căn bản tương tự trong đạo Kitô vốn là hậu quả của sự xung khắc giữa đạo Kitô và đạo Hồi. Cũng thế, Đạo Kitô cũng có chỗ cho thuyết huyền bí nếu điều ấy không ám chỉ đến sự thống nhất của thuyết phiếm thần với thượng đế, nhưng mà là nói đến tình yêu Thiên Chúa bao trùm và thấm nhập vào tất cả mọi sự. Cũng vậy trong đạo Hồi - như đã được công nhận từ thời ông al-Ghazzàlì (thế kỷ thứ mười hai), là vị hòa giải vĩ đại giữa hai trường phái chính thống và huyền bí – thì mọi phẩm tính xã hội, luật lệ và lý trí của đạo Hồi qui luật (các học giả tôn giáo hay giáo sĩ đạo Hồi) và mọi phẩm tính cá nhân, kinh nghiệm, và cảm xúc của đạo Hồi qui tâm (các nhà huyền bí đạo Hồi hay các Sufis) luôn luôn bổ túc cho nhau. Nhiều tín đồ đạo Hồi ngày nay xác quyết rằng họ vẫn đang cùng nhau góp phần hầu phát triển sự phong phú nơi nhau.

b. Khám Phá một Ý nghĩa Khả Thể ngay trong sự Khổ Đau Vô Lý


Cả Muhammad và Đức Giêsu đều đối mặt với vấn đề khổ đau trong sứ vụ rao giảng của mình. Mỗi vị đều gặp những chống đối quyết liệt, những vấn đề về sự sống và sự chết, trên con đường rao giảng sứ điệp của các ngài; thế nhưng các vị ấy đều biểu lộ tính chịu đựng phi thường và một khả năng đáng khâm phục khi kinh qua đau khổ. Tuy nhiên, trong tất cả những điều này, Đức Giêsu là người đã khai mở một chiều kích hiện hữu khác và sâu thẳm hơn; vì rằng, không như Muhammad, Đức Giêsu sống một cuộc đời đau khổ thật mẫu mực: đó là, khổ đau của người vô tội, của người bị Chúa Cha và con người bỏ rơi xa lánh. Vì vậy, Đức Giêsu đã đi vào lịch sử như là một mẫu mực mang lấy đau khổ vô lý của kiếp người, và như là kẻ chịu nỗi thống khổ thuần khiết và giản dị, Người chính là Con-Người-của-Tất-Cả-Nỗi-Thống-Khổ.

Đây là lý do tại sao ngay từ ban đầu thần học đạo Kitô cảm thấy như bị cưỡng ép để biến cái đau khổ của người vô tội thành trọng tâm cho suy tư thần học, để từ đó xây dựng nên một nền thần học thập giá (theologia crucis): Có “ý nghĩa” tiềm ẩn nào trong nỗi đau của người vô tội không? Sự đau khổ của một Đức Giêsu-bị-Chúa-Cha-bỏ-rơi có được Chúa Cha sinh ra trong hành động chung cuộc để làm cho tất cả hiệp nhất nên một với nhau không ? Theo như tôi thấy, người ta khó lòng tìm thấy một điểm khơi mở nào nơi con người Muhammad với kiểu suy tư như thế. Chắc chắn nền thần học đạo Kitô không ngừng xoay chuyển căn tính của mình từ một nền thần học thập giá sang một nền thần học vinh quang (theologia gloriae). Nhưng theo Muhammad, môt nền thần học vinh quang như vậy đã có ngay từ buổi đầu rồi, vì Thiên Chúa không giải thoát những kẻ xuất thân từ những hoàn cảnh ô nhục xấu sa, thực ra Ngài đã giải thoát họ qua hình ảnh con người Muhammad - vị tiên tri, vị tướng lãnh hay vị phát ngôn viên thành đạt công danh (thực ra, theo Kinh Qur’an và các luận chứng lịch sử mang tính chống đối, cuối cùng Thiên Chúa đã không để cho Đức Giêsu phải chết trên cây thập giá).

Điều này muốn nói lên rằng, chúng ta đã khám phá ra một thái độ mới đối với khổ đau, thất bại, cũng như tất cả mọi tiêu cực được miêu tả trong sứ vụ, khổ đau, toàn bộ vận mạng của Đức Giêsu. Về điều này, hầu như tôi không tìm thấy đâu có một sự tương đồng ít là trong đạo Hồi chính thống (và cả trong đạo Shi’a, đau khổ thường là dịp để truyền bá cuộc vận động trả thù). Câu hỏi gay gắt sẽ được đặt ra là, nếu có một vị Thượng Đế vốn siêu việt và không thể hiểu thấu được, vốn đầy lòng từ bi thương xót và được siêu tôn trên tất cả những đớn đau khổ não, thì tại sao mà lại để cho con người phải chịu đau khổ, mặc họ tranh đấu, phản kháng hay đơn giản là mặc hy sinh từ bỏ bản thân mình và cuối cùng phải chết trong nỗi bi thương vô tận, mà thường thì chịu đựng quá sức cho sự vô lý và nỗi đớn đau vô bờ? Và những tín đồ đạo Hồi lý giải câu hỏi này có đúng không khi họ cho rằng chúng ta cần phải tin cậy vào Thượng Đế và cần thinh lặng trước kế hoạch khó có thể hiểu thấu của Ngài, mà kế hoạch của Ngài vẫn luôn luôn là một mầu nhiệm và không bao giờ có thể hiểu được ? Hoặc câu hỏi cũng có thể được đặt ngược lại như: Thực sự Thượng Đế có được siêu tôn như thế không, hay Ngài có phải là Chúa Cai Quản thuần tuý vũ trụ vạn vật và có thể vượt lên trên mọi khổ đau xem chừng như vô lý như thế không, cũng như theo cách thức con người chúng ta, đó là chúng ta có thể tưởng tượng hay phỏng đoán cho dù chúng ta có chống đối như thế nào đi chăng nữa?

Kitô hữu tin rằng, cho dù Chúa không thể nào hiểu thấu được (như Kinh Qur’an đã nhấn mạnh và Sách Gióp đã mô tả ông Gióp là người hùng mẫu mực đã chịu nhiều nỗi đắng cay tột bực) thì nỗi đớn đau và cái chết xem chừng như vô lý của Đức Giêsu đã khai mở cho chúng ta ơn cứu chuộc duy nhất và dứt khoát qua sự khổ đau mà Thiên Chúa muốn thực hiện nơi Đức Giêsu, một vị Thiên Chúa không phải do ý muốn loài người tạo nên. Thiên Chúa sẽ biến khổ đau và cái chết thành sự sống vĩnh hằng và sự viên mãn thành toàn cho mọi ao ước khắc khoải của chúng ta. Chắc chắn ngay cả đức tin của Đức Giêsu cũng không thể nào làm đảo ngược sự kiện khổ đau; và đức tin ấy cũng có thể vẫn không ngừng còn bị Người ngờ vực nữa. Thế nhưng, có điều quan trọng mà chúng ta có thể nói được rằng, kết quả sau bao năm sống trên trần thế này và nỗi đớn đau nơi con người ấy thì: ngay cả cuộc sống và nỗi thống khổ của con người xem chừng như quá vô lý cũng có thể có một ý nghĩa, và có thể đảm nhiệm ý nghĩa ấy.

Đây là một ý nghĩa kín ẩn, và nó không phải là một món quà tất yếu, nhưng chính là một lời mời gọi con người dâng tặng ý nghĩa một cách nhưng không và liên tục, mà sẽ thách thức sự chọn lựa nơi chính bản thân tôi. Dĩ nhiên, tôi có thể khước từ đón nhận ý nghĩa kín ẩn này vì xem thường, giễu cợt hay thất vọng. Thế nhưng, tôi cũng có thể chấp nhận nó vì lòng tin và trông cậy vào Đấng đã đặt để vào sự khổ đau và cái chết vô lý của Đức Kitô một ý nghĩa mới.

2. Trước đạo Ấn (Hindu): Lịch Sử Hướng Đích hay Xoay Vòng ? 


Như chúng ta đã biết, tín đồ đạo Ấn tin rằng cá nhân một người không chỉ sống mãi mãi qua nhiều kiếp, nhưng còn trong tiến trình tuần hoàn của lịch sử, trong những thế giới sẽ nảy sinh sau này, rồi lại dần dần hướng đến giai đoạn suy vi, và rồi lại được sinh ra hoàn toàn mới mẻ. Tuy nhiên, sự xoay vòng này thông qua những dạng thức luôn luôn mới mẻ vẫn không là một thế giới vô tận cho cá nhân người ấy. Hơn thế, người ấy vẫn có khả thể cuối cùng để bước ra khỏi chu trình đó, tức là khỏi bánh xe luân hồi (samsara) hầu bước vào Cõi Tuyệt Đối.

Khi bước vào Nguồn Cội thần linh này, chắc chắn chẳng bao lâu cũng sẽ ra khỏi tiến trình tuần hoàn của cõi ta bà hiện nay. Mặt khác, suy tưởng về điều này cũng có thể làm cho con người vẫn luẩn quẩn trong cái vòng xoay chuyển, thế nhưng sau cùng cũng tiến về hướng đích chung cục. Ở đây chúng ta có thể nắm bắt được một điểm dung hòa quan trọng giữa các truyền thống huyền bí và huyền bí tiên tri. Bất cứ sự suy tưởng ấy có luẩn quẩn trong những quĩ đạo hay trong sự chuyển động biện chứng xuyên qua những khủng hoảng hay sự gián đoạn, thì suy cho cùng lịch sử nhân loại (trong đó, cũng có thể nói về sự hoạt động của vũ trụ) cũng hướng đến những gì tạo nên sự viên mãn thành toàn của cuộc sống con người: đó là, tự do khi bước vào “Niết Bàn” hay “Nước Trời.”

Theo tư tưởng của đạo Kitô về lịch sử, ý niệm về việc không thể nào xóa bỏ được tính thời gian thì đóng vai trò rất quan trọng. Thành thực mà nói, ý niệm cho rằng thời gian và những biến cố lịch sử đều tuân theo một diễn tiến tuần hoàn nhất định luôn luôn có một năng lực gợi ý nào đó, đặc biệt từ khi chúng ta khám phá tự trong thiên nhiên có một qui luật tuần hoàn phổ quát, chẳng hạn như qui luật chuyển động nhịp nhàng như các ngôi sao, các mùa, ngày và đêm vẫn lập đi lập lại một cách đều đặn. Theo người Ấn độ, họ tin rằng tất cả mọi hoạt động này giúp con người nhận biết có một dấu chỉ tiên báo nào đó, chẳng hạn ngay như cái vĩ đại có hiện hữu đó, nhưng rồi nó cũng đến ngày kết cục; cũng vậy, chẳng thể nào có sự tồn tại mãi mãi của cái nhỏ được.

Nói cách khác, như chúng ta vừa mới biết, chúng ta không nên bỏ qua sự kiện cho rằng thiên nhiên không đơn giản tuân theo những qui luật của qũi đạo. Mọi sự diễn tiến trong thiên nhiên, từ hạt nhân cho đến các chòm sao trên trời, đều có một lịch sử nhất định và tuân theo một đường hướng nhất định. Ngay cả khi biến cố Big Bang xuất hiện, lịch sử ấy đã chuyển động cách đây hàng tỉ năm rồi; và có thể lịch sử ấy dần dần sẽ đi đến chỗ chấm dứt. Dĩ nhiên truyền thuyết Ấn độ cũng cho biết rằng thế giới này sẽ đến ngày chung cục, nhưng sự chung cục ấy là để khởi sự một tiến trình tuần hoàn mới khác mà thôi. Trái lại, truyền thống đạo Hồi, đạo Kitô và đạo Do Thái thừa nhận rằng không chỉ đơn giản sẽ có ngày chấm dứt sự sống, lịch sử nhân loại và vũ trụ vạn vật, nhưng mà còn là sự viên mãn đích thực, sự viên mãn của những cái mới mẻ hoàn toàn: “con người mới,” “thế giới mới” “trời mới”; tóm lại, đó là sự thành toàn vĩnh hằng xuyên qua Đấng Tuyệt Đối, vốn sẽ vừa phán xét và phân tách lọc lựa, đồng thời cũng vừa cứu chuộc và biến đổi nhân loại.

Vì vậy, sự suy tư theo chiều hướng từ chọn lọc đến diễn tiến tuần hoàn chính là ý niệm của đạo Hồi, đạo Kitô và đạo Do Thái khi về lịch sử như là một tiến trình có ý nghĩa, chặc chẽ, liên tục và hướng đích mà được hoàn tất bởi chính Thiên Chúa. Điều này không có nghĩa đơn giản chỉ lý giải “theo quan niệm đường thẳng” về lịch sử như là tất cả mọi sự đều diễn tiến theo chiều hướng phía trước và đi lên với một tiến trình liên tục bất biến. Hơn nữa, đấy còn chính là việc đọc lại lịch sử theo “phương thức biện chứng” và quá chú trọng đến những khủng hoảng và đổ vỡ, chiến tranh và tai ương không ngừng xảy ra, mà chúng ta thấy hay được đề cập đến trong các sử thi Ấn độ. Đấy không phải là nguyên lý về sự “suy thoái và sụp đổ,” vốn chứa đầy tiếc nuối dĩ vãng của thời nguyên thuỷ lý tưởng hay thời kỳ mẫu mực đẹp đẽ. Thay vào đó, sự suy tư cần phản đơn thành đối diện với từng khoảng khắc và từng giai đoạn lịch sử như là một toàn thể, và nhận biết được trách nhiệm không thể nhượng lại của một cá nhân cũng như nhận ra được ý nghĩa tiềm ẩn về chính việc mà người ấy đang thực thi – trong nhãn quan của sự viên mãn cánh chung.

Nhà thần học đạo Kitô có nhiệm vụ là xác định sự hướng đích của lịch sử và tin rằng, cho dù phải chứng kiến nhiều cuộc khủng hoảng, thảm họa và suy vi, thì lịch sử vẫn là một toàn thể đầy ý nghĩa. Nhưng đặc biệt là khi nhà thần học xác quyết về điều này, họ sẽ không thể nào lẩn tránh vấn nạn vốn nối kết giữa ý nghĩa của cái toàn thể với kinh nghiệm riêng của cá nhân về sự vô lý của sự dữ. Nói tắt một lời, họ phải biết họ đang đối diện với trường phái triết học nào, kể từ thời triết gia Gottfried Wilhelm von Leibniz cho đến nay, về vấn đề thần lý: đó là, làm thế nào có thể minh chứng sự hiện hữu của Thiên Chúa khi thế giới không ngừng đang phải đương đầu với sự dữ.

Chắc chắn nền thần học đạo Kitô cần phải giải quyết vấn đề này từ lâu rồi. Để thực hiện được như thế, đáng lẽ ra nền thần học bấy giờ phải trình bày mầu nhiệm Thiên Chúa sao cho thật sáng tỏ. Thật thế, thần học có thể trù liệu một số lời giải đáp “đơn giản hơn” hầu cố gắng làm sao không phải dùng đến những giả thuyết thần học mang nặng tính suy lý. Xin được liệt kê nơi đây ba điểm quan trọng:

a. Thần học đạo Kitô không bao giờ được chối từ trình bày đau khổ, trái lại, cần xem khổ đau như là sự thử thách lòng tin cơ bản vào Thiên Chúa, Đấng vẫn đang thách thức con người trên con đường lựa chọn và quyết định. Thực thế, thường thường những kinh nghiệm khổ đau bị xung đột trong tư tưởng: một mặt, kinh nghiệm khổ đau sẽ phá đổ tất cả mọi cấu trúc ý nghĩa, nhưng mặt khác lại có niềm hy vọng kiên định và mới mẻ.

b. Trong lịch sử nhân loại và lịch sử cá nhân của mỗi người khi nhận lấy thực tại khổ đau vô cùng to lớn, thần học đạo Kitô cần bám vào bản văn nền tảng của nó, chẳng hạn như Kinh Thánh, những ý tưởng bảo vệ cho niềm hy vọng đạo Kitô, hầu qua đó trình bày cho những con người đau khổ, ngờ vực và tuyệt vọng, cũng như cần trình bày những ý tưởng không thể chấp nhận hình thức cam chịu, ban phát những lời an ủi rẻ tiền, hay nổi loạn giận dữ cuộc đời. Thay vì hướng chiều đến kiểu giận dữ như của phái Prometheus hay Sisyphus của Camus, đạo Kitô cần nhìn đến thái độ của ông Gióp trong Cựu Ước. Trong sách Gióp, con người sẽ nhận thấy một niềm xác tín vô điều kiện, không hề run rẩy, vượt quá trí hiểu của con người Gióp, cho dù ông chịu biết bao khổ đau giáng xuống mình cũng như đã và đang ập xuống nhân gian này. Đối với Gióp, chẳng còn con đường nào khác hơn là chỉ còn biết cam chịu hoặc thụ động, và ngày nay cũng vậy. Đức tin đạo Kitô vẫn cần được đặt trên niềm hy vọng vốn luôn luôn bị thử thách, hy vọng rằng sẽ có bàn tay đưa ra nâng đỡ con người ngay trong hố thẳm tăm tối của đớn đau và sự dữ.

c. Với ánh sáng kinh nghiệm qua cái chết và sự giương cao của Đức Giêsu vào trong cõi sống vĩnh hằng, thần học đạo Kitô cần học hỏi hầu tái suy tư và tái trải nghiệm Thiên Chúa như Đấng đồng cảm thấu suốt, quan tâm và liên đới. Đến đây, một nhãn quan mới về Thiên Chúa – một kinh nghiệm khác thuộc phẩm chất – sẽ được đưa ra ánh sáng; với cái nhìn này, nói theo ngôn ngữ thần học, chúng ta sẽ có được một chiều sâu mới chú trọng đến vấn đề khổ đau.

Vì vậy, từ quan điểm đạo Kitô, kinh nghiệm về khổ đau luôn luôn gắn chặt với niềm hy vọng chấm dứt nỗi thống khổ trước kia và mọi nỗi đớn đau đang và sẽ đến khi bước vào Vương Quốc Thiên Chúa. Theo thần học đạo Kitô, phận vụ không thể chuyển nhượng được của cá nhân trước mặt Chúa sẽ là điều kiện tiên quyết không phải để chấp nhận khổ đau một cách lặng thầm, nhưng mà là biến đổi khổ đau bằng hành động của niềm hy vọng, nhờ lòng tin cậy vào sức mạnh biến đổi của Thiên Chúa. Niềm tin cậy mang tính hy vọng này có thể không còn bị nghi hoặc như là một kiểu dự đoán nữa, mà niềm hy vọng ấy sẽ đóng vai trò định tâm cho người trưởng thành. Tín hữu khi đã tin vào Thiên Chúa, Đấng tạo tác và đưa mọi sự đến viên mãn thành toàn, sẽ nhận biết rằng mình đã khát khao thực hiện điều gì đó: tranh đấu cho công lý, tự do, và hòa bình hầu chống lại mọi thế lực sự dữ, bất công, áp bức, khốn khổ và sự chết. Để tin vào Thiên Chúa, Đấng hoàn thiện thế giới và nhân loại, có nghĩa là xác tín vào niềm trông cậy (không phải là sự tin cậy mù quáng, nhưng là được soi sáng) mà tất cả mọi đích điểm chung cục của nhân loại và thế giới sẽ mãi mãi không thể nào lý giải được; mà thế giới và nhân loại sẽ không còn bị quăng vào cõi hư vô một cách vô nghĩa nữa; trái lại, xét như là toàn thể, nhân loại và thế giới vẫn đầy ý nghĩa và cao qúi – chúng chẳng phải là một đống hỗn độn, nhưng là một vũ trụ; sau hết, với sự xác tín vào niềm trông cậy ấy, thế giới và nhân loại sẽ được chở che hoàn toàn và được cư ngụ đời đời trong nhà của Thiên Chúa chúng ta, là Đấng tác tạo và hoàn tất mọi sự.

3. Trước Đạo Phật


a. Đấng Chứng Ngộ và Đấng Chịu Đóng Đinh


Nếu chúng ta bám vào quan niệm lịch sử, thì đâu là điểm khác biệt căn bản giữa Đức Giêsu và Đức Phật mà chúng ta cần phải khám phá? Chúng ta có thể khám phá được điều này bằng cách chú tâm vào hình ảnh vị Phật hoan hỷ đang tọa thiền giữa bông sen, và hình ảnh của Đức Giêsu đang bị đau đớn quằn quại, bị đóng đinh vào thập giá. Chỉ từ viễn cảnh này thì ý nghĩa về một vị Phật đối với các Phật tử và về Đức Giêsu đối với các Kitô hữu mới được hiểu rõ ràng và đúng đắn hơn.

Qua con đường chứng ngộ của mình, Gautama đã bước vào niết bàn (mà ngay trong cuộc đời này ngài đã có thể đạt tới), và ngài vẫn còn sống sau đó vài thập niên như một Đấng đã chứng ngộ, và sau khi qua cái chết do một căn nguyên thật bình thường, ngài bước vào niết bàn trọn vẹn, hay còn gọi là viên tịch. Có thể nói rằng Đức Phật, dù không một lần đau đớn khổ luỵ, đã từng sống với một khí chất vui tươi đích thực, chan hòa và vinh thắng, sau cùng ngay cả những con người có đầy quyền năng cũng tôn kính suy phục ngài vô cùng. Giáo huấn của ngài được tỏa lan khắp chốn, đồ đệ của ngài mỗi lúc một gia tăng lớn mạnh. Ngài viên tịch lúc tuổi già, được tám mươi, nguyên do bị đầu độc thức ăn, thế mà ngài vẫn an nhiên tự tại trong khi các đồ đệ đang vây quanh thương tiếc. Nơi đâu trên thế giới cũng đều tạc tượng một vị Phật trong trạng thái này và nhắc nhớ chúng ta đến trạng thái an nhiên tự tại, vô đắm vô cầu, an bình, chan hòa cùng tận của ngài, vả lại nét mặt ấy còn chất chứa niềm tươi vui hóm hỉnh nữa.

Với con người thành Nazareth, nhìn chung, rất khác biệt: đời sống công khai của ngài chẳng kéo dài đến vài thập niên; thực vậy, chỉ nhiều lắm là ba năm vắn vỏi, có lẽ chỉ vài tháng đau thương bi đát trước khi cuộc đời của ngài kết cục trong sự bạo hành. Câu chuyện này chất chứa bao căng thẳng từ đầu tới cuối, vốn được xây dựng nên bởi cuộc xung khắc hiểm nguy giữa tổ chức tôn giáo và cơ cấu của nó. Sau cùng toàn bộ câu chuyện chỉ là câu chuyện của khổ đau mà chấm dứt bằng sự bắt bớ, đánh đòn và xử tử. Cuộc đời của ngài trong câu chuyện này chẳng có gì là êm thắm hay trọn vẹn. Kết thúc câu chuyện chỉ là một sự đổ vỡ và dang dở. Trong mỗi tình tiết, không thất đâu dấu vết của sự thành công nơi cuộc đời của Đức Giêsu. Các trình thuật trong câu chuyện cho chúng ta biết được rằng người đàn ông này bị chết một cách tủi nhục và khinh miệt, vì bị xem như là một ngôn sứ giả và là thằng ngoại giáo, một tên ăn nói phạm thượng và là một kẻ dụ dỗ quần chúng. Cuộc đời của ngài được kết thúc trong sự cô độc và đớn đau khôn tả: bị gia đình xa lánh, bị các môn đệ khước từ, bị Chúa Cha hoàn toàn lãng quên. Lời cuối cùng mà dân chúng nghe thấy là một tiếng thốt lên đau đớn của ngài trên thập giá. Từ đó tới nay, và sẽ còn cho đến nhiều thế kỷ sau, sẽ chẳng có ai dám diễn tả hình ảnh này qua nghệ thuật. Đức Giêsu là hình ảnh của một kẻ đớn đau hoàn toàn và nghèo hèn: chắc hẳn đấy là một nỗi đớn đau, mà ngay từ buổi ban đầu, những cộng đoàn đạo Kitô sơ khai đã nhận thấy rõ rằng, đấy không phải là nỗi tuyệt vọng của một con người đã bị biến thành sự buồn đau khổ não, nhưng mà đấy chính là hành động tự hiến cao cả, một tình yêu tối thượng dành cho Thiên Chúa và cho con người.

Đức Giêsu là một kẻ khổ đau không phải ngài chỉ thương xót con người mà thôi, nhưng mà còn mang lấy chính khổ đau vào bản thân mình, trong ngài không có sự ngơi nghỉ, nhưng mà hoàn toàn trao dâng chính mình ngài. Bằng cách này, như là một kẻ khổ đau trong sự tự hiến và tình yêu, con người Đức Giêsu này, theo như các Kitô hữu nhìn nhận, không như Đức Phật. Đức Giêsu là Đấng-Thương-Xót, mà đặc biệt khác với các vị thần và những đấng thánh thành lập các tôn giáo khác, ngài không như mọi thiên tài tôn giáo, các anh hùng và những hoàng đế của lịch sử nhân loại. Ngài chính là kẻ khổ đau, kẻ bị giết chết, và kẻ bị đóng đinh trên thập giá. Tuy nhiên, đức tin đạo Kitô nhìn nhận rằng Đấng chịu đóng đinh trên cây thập giá đã không hề đi vào hư không; tuy nhiên, ngài đã đi vào thực tại tạm thời, chóng qua và bấp bênh này để bước vào cuộc sống vĩnh hằng và đích thực. Đây chẳng phải là sự can thiệp “siêu phàm” bởi một giải pháp thần diệu (Deus ex machina), nhưng chính ngài đã chết một cái chết “tự nhiên” để bước vào một thực tại hiện thời và đích thực: bất luận thế nào đi chăng nữa, thì đây là điều kiện cuối cùng không còn có khổ đau nào nữa cả. Đến đây, người ta sẽ phải thắc mắc: vậy thì chẳng lẽ đạo Phật không chấp nhận có một trạng thái sau cùng mà không có sự hiện hữu của đau khổ như thế “ở cõi bên kia” – tức là niết bàn hay sao?

b. Đau Khổ và Viên Mãn


Gautama cũng là con người, nên cũng có khổ đau, ngài cũng chẳng khác gì Giêsu cả. Với con đường khai mở chứng giác của mình, Gautama đã trở thành vị bồ tát, nhưng bấy giờ cũng chẳng thể nào được miễn trừ khỏi khổ đau. Cũng thế, chẳng lẽ các tín đồ đạo Phật không cho Kitô hữu đầu tiên ấy như là một vị bồ tát sao ?

Phải thú thực rằng các tín đồ đạo Phật cho biết vị bồ tát Gautama đã đạt đạo, ngay cả trong suốt quãng thời gian khi ngài sống trên trần gian này, bằng con đường chứng giác, ngài đã trở thành một vị Phật. Vậy thì Đức Giêsu “bồ tát” thì như thế nào đây? Tín đồ đạo Phật vẫn còn nghi hoặc. Đối với họ, đơn giản là họ không thể hiểu được tại sao một Vị đã Chứng Giác thực sự, một Đấng Cứu Chuộc lại phải chịu khổ đau, chẳng hạn qua những biến cố của cuộc Hành Trình Thương Khó (Via Dolorosa) từ Núi Olives đến đỉnh đồi Calvary, vốn biểu lộ một thực tại bi đát kinh khủng. Ở điểm này, Đức Phật Gautama hoàn toàn khác biệt. Vì là Vị Chứng Giác, Đức Phật đứng trụ trên mọi khổ đau, vì bất cứ ai đi qua đường thiền định cũng sẽ nhận ra bản chất, căn nguyên của khổ đau và phương thế để giải thoát khỏi chúng, bấy giờ họ sẽ từ bỏ mọi tham ái và dính bén bám chấp, dĩ nhiên họ vẫn còn nhận thức đầy đủ khổ đau, nhưng họ không còn bị dính mắc vào cái ngã, vì cái ngã thực thụ không còn tồn tại nữa. Đây chính là những gì nghệ thuật nhà Phật không ngừng biểu tỏ và diễn đạt. Cho nên, không lạ gì khi đạo Phật chú trọng đến nụ cười an nhiên tự tại của ngài.

Chắc chắn rằng sau khi đạt đến trạng thái chứng ngộ, Đức Phật đã và vẫn phải chịu đau khổ, thậm chí còn rướm máu nữa. Chúng ta vẫn nghe đến ngài bị bệnh và bị kẻ thù gây thương tích (từ đó, người ta đặt tên cho việc “gây cho Đức Phật rướm máu” là một trong năm tội luỵ trầm trọng nhất trong giáo lý nhà Phật); sau hết, Đức Phật phải chết chỉ vì một trong những căn nguyên thường nhất. Nhưng khi Đức Phật đã đạt đến giai đoạn chứng ngộ, ngài vượt qua khổ đau – thậm chí ngay trong hiện tại trên cõi ta bà này.

Đây chính là lý do tại sao trong nghệ thuật nhà Phật người ta tránh họa lại nỗi thống khổ của Đức Phật. Thực thế, ngay từ buổi ban đầu, Phật học phát triển khuynh hướng là tránh hoàn toàn việc phác họa lên một Đức Phật khổ đau. Trong Mahàyàna có nhiều khuynh hướng chẳng hạn như Pháp Điển Liên Hoa Sanh (Lotus Sùtra), những khuynh hướng ấy xác quyết Đức Phật chỉ có đau khổ trước khi ngài hiện hữu trong tư cách là một vị bồ tát, thế nhưng với tư cách là một Vị Phật thì cuộc đời của ngài không còn có khổ đau nữa. Nhân vật Đức Phật được siêu tôn đến nỗi chúng sinh cứ tưởng chừng rằng chỉ có hình tướng bên ngoài của con người ngài mới làm cho ngài có sinh, khổ, và diệt.

Thần học đạo Kitô cũng không ngừng bị cám dỗ giảm thiểu hay tránh né nỗi khổ đau của Đức Giêsu, hay ít ra cũng xem nỗi khổ ấy theo nghĩa đen và chỉ là nỗi khổ hời hợt bên ngoài mà thôi. Trường phái đạo Kitô lập tức bỏ ngay chủ thuyết Ao Thân vốn bắt nguồn từ Văn Minh Hy Lạp, và ít là trong phương thức cấp tiến, nhưng họ lại trình bày một hình ảnh Đức Giêsu ấy đối lập hoàn toàn với hình ảnh Đức Giêsu của Tân Ước. Vì thế, nhân tính của Đức Giêsu – tức là Người đã từng chịu khổ đau, hấp hối và bị giết chết – không bao giờ được che đậy, nhưng cần trình bày sao cho đúng đắn như nó là.

Thế nhưng làm sao con người này, vốn đã chết theo cách thế của một con người ô nhục, lại có thể là một Đấng Chứng Ngộ hay một Đấng Đại Viên Giác được ? Cũng vậy, theo các Kitô hữu, cái chết ô nhục trên thập giá trước tiên chính là dấu hiệu của sự bại trận và chẳng có thể cứu độ nhân loại được. Cũng như cộng đoàn sơ khai đã ra đi làm chứng nhân, con người đau khổ và hấp hối này không chìm ngập trong cái chết, nhưng bằng cái chết ngài đã bước vào thực tại tối hậu mà các Kitô hữu gọi là Thiên Chúa, đó là vì thập giá đã mặc lấy một ý nghĩa khác hẳn và tích cực, và là một dấu chỉ căn bản. Mặt khác, chỉ qua “sự sống lại” để bước vào đời sống vĩnh hằng thì Đức Kitô mới có thể trở thành “Đấng Chứng Giác” đích thực, hay “Đấng Ngộ Chứng” hoàn toàn. Theo ngôn từ của đạo Kitô, chỉ lúc này đây Đức Giêsu mới công bố mình là “Thiên Chúa,” “Đấng Mesiah,” “Đấng Kitô,” hoặc như là “Hình Ảnh, Ngôi Lời, Con Thiên Chúa,” “Sự Sáng cho Thế Gian,” là “đường, là sự thật và là sự sống.” Cho nên chính lúc này đây, sự khổ đau của Người mới chấm dứt và đức tin đảm bảo cho sự hiện hữu của Người một cách liên tục tác động lên trên cộng đoàn của Người như là một thực tại Thần Khí của Chúa, mà thánh Phaolô đã từng nói: ‘tác động của Chúa là Thần Khí..., ’ (2Cr 3,17).

Chỉ lúc này đây, các Kitô hữu mới dám chân nhận chính Đấng Tuyệt Đối trong nhãn quan hoàn toàn mới mẻ: Trong ánh sáng thập giá và sống lại của Đức Giêsu, chúng ta mới có thể nói về lòng thương xót của Chúa (com-passion: đồng-chịu khổ = thương xót), về sự “liên đới” độc đáo của Thiên Chúa, cụ thể là với những người khổ đau, người thấp bé, kẻ bị bóc lột, và kẻ bị bỏ rơi cho đến chết. Với cách thế này, mọi sự tiêu cực trên trần thế này cần phải được hiểu một cách đúng đắn trong mọi chiều kích của một thực tại, nhưng sau hết cần phủ nhận tất cả theo chiều hướng tích cực để nhảy bổ vào cõi vô tận.

Vậy thì Đức Phật đã đi “đâu” nếu người ta không nhận thấy niết bàn như là sự hư không, một sự hư không thực sự thuần khiết ? Ngay từ buổi đầu khi đạo Phật được thành lập, thì đã nảy sinh trong tâm trí những khó khăn là: Phật Gautama đơn giản không còn hiện hữu nữa. Người ta đã gán cho ngài có thân tâm; thực ra người ta đồng nhất ngài với Pháp Thân, với chính Đấng Tuyệt Đối. Đối với đạo Phật Vô Quang, sau cùng Đức Phật đã trở thành một Vị Phật vĩnh hằng, Vị Phật của sự sống vĩnh hằng, đại diện trực tiếp cho một thực tại tối cao. Vì thế, ngài đã tự biểu tỏ trong hình tướng của Phật Gautama.

Phải chăng, đối với các Phật tử và Kitô hữu vốn xem Đức Phật và Đức Kitô như là tiêu chuẩn sống, thì những cách thế đưa con người đến trạng thái giải thoát khỏi mọi khổ đau có khác biệt ngay tự gốc rễ nếu không muốn nói đơn giản chỉ là trệch hướng thôi không? Theo như đạo Phật nguyên thuỷ, chúng ta nhận thấy Phật tử tin rằng, bằng nỗ lực cá nhân ngay trên cuộc sống trên trần thế này mà người ta có thể đạt đến sự tách lìa khỏi ngục tù khổ não để bước vào Cõi Tuyệt Đối; còn theo như đạo Kitô, chúng ta nhận thấy các tín hữu tin rằng, họ có thể được Thiên Chúa cứu chuộc khỏi mọi xiềng xích khổ đau thông qua sức mạnh của một Đấng Khác chỉ khi cuộc đời của họ đã chấm dứt hầu bước vào Cõi Tuyệt Đối. Quan điểm của một số trường phái đạo Phật nào đó xem sự cứu độ cũng tương tự như quan điểm của đạo Kitô. Qua sự kiện ấy, chúng ta cũng không nên phóng đại quá sự mâu thuẫn trong đạo Phật.

Đến đây, điểm mấu chốt chính là đạo Kitô và đạo Phật có duy trì hay bài bác niềm hy vọng thì thực tại tối hậu, một thực tại cánh chung sẽ không còn khổ não nữa. đạo Kitô nhấn mạnh rằng thực tại tối hậu là một cuộc sống không khổ đau, một cuộc sống mà nơi ấy người ta không còn phải nỗ lực mang tính cá nhân cũng như tập thể hay xã hội nữa, thế nhưng từ thực tại tối hậu và thực tại nguyên thuỷ, họ khao khát mong chờ Đấng mà họ đã dấn thân với niềm cậy trông của tâm trí, cũng như họ mong chờ một thực tại sẽ hoàn toàn không còn khổ đau nào trong sự viên mãn của cuộc sống vĩnh hằng.

Lời hứa không còn khổ đau ở tương lai không phải là lời tiên tri bịa đặt ra để thoả mãn tính hiếu kỳ của tâm trí chúng ta, và tất nhiên cũng không đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ chính bản thân cho nguyên trạng. Trái lại, lời hứa ấy là để dành cho những ai biết “ở lại” trong Đức Kitô, cho những ai can đảm dấn thân vào con đường của Người, cho những ai không phải sống cho chính họ nhưng là để Người sống trong họ, hoặc cho những ai không còn sống với con người cũ ích kỷ của mình nữa, mà để cho con người cũ được “đóng đinh vào thập giá,” và làm cho con người mới được biến biến đổi thành một thực tại sống động: cái cũ đã biến mất đi để cái mới được tồn tại. Tới một bình diện nào đó, các Kitô hữu cũng sẽ đón nhận từ nơi Đức Kitô sự giải thoát, cứu chuộc và chứng ngộ ngay lúc này trên cuộc sống trần thế: “... Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8,12). Để “chứng ngộ” ngay trong cuộc sống trần thế này: vậy thì liệu con đường của đạo Phật và đạo Kitô có thực sự mâu thuẫn như các trường phái tư tưởng có truyền thống khác nhau không?

Con người vẫn không thể nào vượt qua đau khổ và mối đe dọa của tử thần vẫn đang là và vẫn là những dấu chỉ, ít là đối với các Kitô hữu. Nhân loại vẫn chưa đạt tới sự viên mãn hay thành toàn, con người trần thế vẫn cần phải tin cậy, không phải tin cậy vào chính mình, nhưng mà là chính vào mục đích tối hậu, một thực tại đúng nghĩa. Ở đây, Kitô hữu chỉ được chỉ cho thấy con đường giữa sự cao ngạo và sự thất vọng (superbia - desperatio). Lời hứa của đạo Kitô chính là “một năng lực khác” đang thực hiện, đặc biệt nơi sự yếu đuối mong manh của con người chúng ta, hoặc là “một sức mạnh khác” tự biểu tỏ ngay nơi đâu chúng ta cảm thấy bất lực. Và đấy chính là điều có thể biến khổ đau của chúng ta thành sự tự do mà chúng ta có thể trải qua ngay trong chính đau khổ của bản thân mình. 

Mặt khác, khi tín hữu Kitô biết duy trì lời hứa ấy, qua đó họ kết hiệp chặc chẽ với Đức Kitô, thì khổ đau sẽ không còn chỉ là sự kiện vô nghĩa lý nữa, hay không còn bị những hậu quả của trật tự tự nhiên của thế trần bao trùm tác động hoặc của cơn thèm khát sống còn và của những hành động trước kia nữa; nhưng trái lại, khổ đau sẽ được mặc lấy một ý nghĩa toàn thể cho dù khổ đau ấy đôi lúc xem ra có vô nghĩa đi nữa. Dù có một ý nghĩa nào đó tỏa chiếu lên những ai và họ cảm nhận có một tương lai viên mãn, hay có nghĩa là, khi tất cả mọi khổ đau, sự dữ và sự chết được xóa tan trong điều mà sẽ được mặc khải như cốt lõi của thế giới, thì chúng ta đã “sống, cử động và hiện hữu” (Cv 17,28) trong cõi thẳm sâu và cái tinh tuý của nhân loại, cũng như trong mầu nhiệm của thực tại ngay lúc này. 

Tuyển dịch: Mat Sunyata

Nguyên tác: Christianity and World Religions: Paths ò Dialogue ưith islam, Hindu, and Buddhism, của Hans Kung, Josef van Ess, Heinrich von Stietencron và Heinz Bechert, Maryknoll, New York, 1985.