Thứ Ba, 3 tháng 9, 2019

THIỀN VÀ CẦU NGUYỆN: Hướng đến một cuộc đối thoại tâm linh

Thời sự Thần học, số 64 - tháng 5/2014, tr. 140-186

Gioan Phê Ny Ngân Giang, O.P.

Dẫn nhập
I. Một vài định hướng cho việc đối thoại tâm linh
II. Thiền – Nhìn từ góc độ tâm lý đến tâm linh
  1. Ý thức được hoàn toàn tỉnh thức
  2. Nhận thức bản ngã chân thật
III. Cầu nguyện Kitô giáo
  1. Các yếu tố của việc cầu nguyện
  2. Cầu nguyện: một góc nhìn từ thần học tâm lý
IV. Thiền và cầu nguyện Kitô giáo : Hướng đến một cuộc đối thoại tâm linh
  1. Zen và kinh nghiệm cầu nguyện Kitô giáo
  2. Vipassana: Kỹ thuật và ứng dụng trong cầu nguyện Kitô giáo
Kết luận









Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2019

THỜI SỰ THẦN HỌC - SỐ 85, THÁNG 08/2019

CHỦ ĐỀ : TRIẾT HỌC CÔNG GIÁO 

"Triết học Kitô giáo - Danh xưng này nguyên nó là chính đáng, nhưng không nên hiểu cách mập mờ: ta không nên hiểu đó là triết học chính thức của Giáo Hội, vì đức tin nguyên nó không phải là một triết học. Đúng ra, với danh xưng ấy người ta có ý ám chỉ lối tư duy triết học Kitô hữu, một suy tư triết học được quan niệm trong sự liên kết mật thiết với đức tin. Điều đó không liên hệ cách đơn thuần đến một nền triết học, được xây dựng bởi những triết gia Kitô hữu, những người khi nghiên cứu không muốn chống đối đức tin. Khi nói về triết học Kitô người ta có ý bao gồm những phát triển quan trọng của tư tưởng triết học đã thành tựu với phần đóng góp, trực tiếp hay gián tiếp, của đức tin Kitô giáo." __Fides et Ratio, số 76__

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2019

THẦN HỌC VỀ CÁC THIÊN THẦN

Thời sự Thần học, số 64 - tháng 5/2014, tr. 66-103

Nt. Maria Đinh Thị Sáng, O.P.

I. Thiên thần trong Thánh Kinh: A. Cựu Ước. B. Tân ước
II.Thiên thần trong lịch sử thần học: A.Thời các giáo phụ. B. Thời Trung Cổ. C. Thời Hiện đại. D. Thời Đương đại
III. Một vài đường hướng thiên thần luận ngày nay: A. Thiên thần luận được đặt trong một “mysterion”. B. Thiên thần luận phụ thuộc vào Kitô luận. C. Thiên thần luận cần được nhìn trong nhãn quan nhân học và sinh thái học

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2019

SATAN TRONG PHỤNG VỤ

Thời sự Thần học, số 64 - tháng 5/2014, tr. 29-65

Phan Tấn Thành

I. Satan theo đức tin công giáo: A. Kinh Thánh: 1/ Cựu Ước. 2/ Tân Ước. B. Truyền thống: 1/ Các giáo phụ. 2/ Các công đồng.
II. Satan trong phụng vụ: A. Khái niệm về việc trừ tà trong lịch sử. B. Nghi thức trừ tà sau CĐ. Vaticanô II
III. Vài vấn đề phức tạp

Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2019

“HƯỚNG DẪN VỀ LÒNG ĐẠO ĐỨC BÌNH DÂN VÀ PHỤNG VỤ”

Lòng đạo đức kính Đức Mẹ trong bối cảnh của lòng đạo đức bình dân


Thời sự Thần học, số 64 - tháng 5/2014, tr. 104-139

Corrado Maggioni, SMM[1]

Trong bài này, trước hết tác giả giới thiệu văn kiện của bộ Phụng tự năm 2002 về lòng đạo đức bình dân và phụng vụ; kế đó, tác giả phân tích những việc đạo đức kính Đức Mẹ.
1. Một thoáng nhìn văn kiện.
  1.1. Hướng đi của Vaticanô II.
  1.2. Số 13 của Hiến chế Phụng vụ.
  1.3. Thế nào là “bình dân”.
2. Lòng đạo đức bình dân là gì?
  2.1. Đạo đức bình dân và tín ngưỡng dân gian.
  2.2. Đạo đức bình dân và cử hành phụng vụ.
  2.3 Những câu hỏi bỏ ngỏ.
  2.4. Việc cầu nguyện không chỉ giới hạn vào phụng vụ.

Thứ Năm, 8 tháng 8, 2019

NHÌN LẠI 50 NĂM HIẾN CHẾ SACROSANCTUM CONCILIUM

LTS: Tháng 6/2019 vừa qua, Uỷ ban Giáo lý Đức tin của HĐGMVN soạn thảo và ấn hành tài liệu “NHÂN ĐỨC THỜ PHƯỢNG: HIỆN TRẠNG - GIÁO HUẤN - PHÂN ĐỊNH”. Nhân dịp này, Trang TSTH đăng lại những bài viết của số 64 “Phụng vụ và lòng đạo đức bình dân” để độc giả có thêm tài liệu tham khảo. 
 

Thời sự Thần học, số 64 - tháng 5/2014, tr. 11-28

Juan-Miguel Ferrer


Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ban hành Hiến chế Phụng vụ của công đồng Vaticanô II, tác giả (phó tổng thư ký Bộ Phụng tự) nhìn lại những chặng đường của công cuộc canh tân phụng vụ qua các văn kiện của Toà thánh, trong một bài thuyết trình tại Astorga (Tây-ban-nha ngày 10/10/2011)[1]. Các văn kiện được phân phối vào ba giai đoạn chính, tương ứng với “cải tổ”, “đổi mới”, “đào sâu”: 1/ Thập niên đầu tiên (1964-1974) và kéo dài đến hết thời đức Phaolô VI. 2/ Thời đức Gioan Phaolô II (thập niên 1985-1995 và kéo dài đến hết triều đại). 3/ Thời đức Bênêđictô XVI (2007-2013). Chúng tôi sẽ bổ túc (ở kết luận) với đôi nét có liên quan đến đức đương kim giáo hoàng. Trong phần phụ trương, chúng tôi sẽ liệt kê các sách phụng vụ đã được duyệt lại sau công đồng.

Nên biết là các văn kiện của Toà thánh thường được xếp hạng theo tầm quan trọng như sau: (I). Trong lãnh vực lập pháp, đứng đầu là: 1/ “Tông hiến” (Constitutio apostolica), rồi đến 2/ “Tự sắc” (Motu proprio). (II). Trong lãnh vực giáo huấn, đứng đầu là: 1/ “Thông điệp” (Litterae encyclicae) thường mang tính cách đạo lý quan trọng. 2/ “Tông thư” (Littera apostolica) bàn về một vấn đề đạo lý hay mục vụ, tuy không quan trọng bằng “thông điệp”. 3/ “Tông huấn” (Exhortatio apostolica) thường đúc kết những đề nghị của một Thượng hội đồng giám mục. (III). Bộ Phụng tự chỉ có thể xuất bản các “Huấn thị” (Instructio) để chấp hành các văn kiện của Giáo hoàng.

Đời sống phụng vụ của Giáo hội từ khi ban hành Hiến chế Sacrosanctum concilium (4 tháng 12 năm 1963)[2] cho đến đức thánh cha Bênêđictô XVI có thể được phân chia thành ba giai đoạn: thời đức Phaolô VI; thời đức Gioan Phaolô II, thời đức Bênêđictô XVI.

I. Thời Đức Phaolô VI


Giai đoạn thứ nhất, nhiều hờ hởi và năng động, từ năm 1964 đến năm 1974 (hơn kém vậy, và có thể kéo dài đến năm 1978, khi đức Phaolô VI băng hà), với đặc trưng là “cải tổ phụng vụ” (reformatio) tìm cách áp dụng những nguyên tắc hướng dẫn của công đồng[3].

Có lẽ chưa bao giờ có nhiều công trình nghiên cứu và xuất bản các tác phẩm về phụng vụ và mục vụ phụng vụ như là những năm ấy. Trong lãnh vực này, đã có rất nhiều tiến bộ cho Dân Chúa: một ý niệm mới không những về phụng vụ mà cả về lòng đạo đức và linh đạo nơi các tín hữu (giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân). Có lẽ phải nói rằng đây là những thành quả lớn nhất của cuộc “cải tổ”. Dĩ nhiên không phải đâu đâu công đồng cũng được tiếp nhận như nhau. Một số người cho rằng công đồng còn rụt rè, nhưng vẫn dựa vào đó để du nhập quan điểm của họ về phụng vụ. Một số khác đã chấp nhận công đồng cách trung thành và tìm cách áp dụng. Một số khác chấp nhận nhưng chẳng hiểu gì; họ chấp nhận bề ngoài vậy thôi. Sau cùng, có những người cho rằng công đồng đã sai lầm, và họ cố bám vào phụng vụ tiền-công-đồng. Những thái độ khác nhau đối với phụng vụ mới cũng phản ánh các thái độ đối với công đồng Vaticanô II. Từ những lập trường khác nhau như vậy đã nảy ra sự đối kháng trong nội bộ Giáo hội, được châm lửa thêm do những phong trào văn hoá tại Âu châu hồi đó (bầu khí tranh đấu, cách mạng văn hoá, tháng 5 năm 1968).

Cuộc “cải tổ” được thể hiện cách chính thức qua việc xuất bản các sách phụng vụ sau công đồng[4], được giải thích qua các “Praenotanda” – phần dẫn nhập vào các nghi thức – mang tính cách thần học và mục vụ[5].

Trên thực tế, vào giai đoạn này, nhiều người đồng hoá việc “cải tổ” với “canh tân”, dẫn đến sự cắt đứt với quá khứ và nhiều lần dẫn đến những lạm dụng; một số khác thì chấp hành sự cải tổ chính thức cách máy móc; phản ứng đối nghịch là chống đối cuộc cải tổ. Những phản ứng ấy coi như là thường tình đối với bất cứ cuộc cải cách nào trên đời này. Tuy nhiên, nguy cơ lớn nhất là người ta coi phụng vụ như là một “sản phẩm” của con người, nghĩa là chỉ nhìn nó dưới khía cạnh nhân loại, do con người chủ động, mà bỏ qua yếu tố linh thiêng. Chống lại với quan niệm phàm tục như vậy, một trào lưu khác nổi lên, nhấn mạnh đến tính cách thánh thiêng của phụng vụ.

II. Thời đức Gioan Phaolô II


Với đức thánh cha Gioan Phaolô II, sinh hoạt phụng vụ chuyển sang giai đoạn hai, từ năm 1985 đến 1995 (và có thể kéo dài đến hết triều đại của ngài). Giai đoạn này bắt đầu với việc kiểm điểm việc thực thi công đồng tại Thượng hội đồng giám mục khoá ngoại thường năm 1985. Liên quan đến phụng vụ, các giám mục đã yêu cầu: a) phục hồi lại ý nghĩa thánh thiêng của buổi cử hành; b) huấn giáo về mầu nhiệm.

Giai đoạn này được đánh dấu với vài văn kiện quan trọng, hoặc mang tính tổng quát hoặc riêng cho lãnh vực phụng vụ.

– 14/8/1984 (nhưng chúng tôi xếp vào giai đoạn này), sách Caeremoniale Episcoporum (Nghi lễ giám mục) không chỉ là một quyển sách dành cho các giám mục mà còn nêu ra những quy tắc cho tất cả các cuộc cử hành phụng vụ, bởi vì việc cử hành của giám mục mang tính cách khuôn mẫu[6].

– 2/7/1988, tự sắc Ecclesia Dei, tìm cách phục hồi sự hợp nhất của Hội thánh, đã bị tổn thương do việc đức tổng giám mục Marcel Lefèbvre tấn phong bốn giám mục bất hợp pháp. Một uỷ ban giáo hoàng được thiết lập để nghiên cứu việc cho phép sử dụng các sách phụng vụ lưu hành hồi năm 1962 (AAS 80, 1988,­1495-1498).

– 4/12/1988, Tông thư Vicesimus quintus annus là một văn kiện quan trọng, tuyên bố kết thúc giai đoạn “cải tổ” (reformatio) và nhấn mạnh sự cần thiết phải “đổi mới” (renovatio), bao hàm việc thấm nhuần giáo huấn của Hiến chế Công đồng. Văn kiện nêu bật những ánh sáng và bóng tối của việc “cải tổ” trước đây, và nhấn mạnh sự cần thiết về sự đào tạo ở mọi cấp bậc, cũng như vạch ra vài thách đố còn lại, đó là việc hội nhập văn hoá và tương quan giữa phụng vụ với lòng đạo đức bình dân.

– 11/10/1992, tông hiến Fidei depositum ban hành Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo. Phần thứ hai của sách Giáo lý cung cấp một tổng lược quý giá về phụng vụ, nền tảng cho chương trình đào tạo phụng vụ do Thượng hội đồng giám mục năm 1985 yêu cầu, và cụ thể hơn nữa là do Tông thư Vicesimus quintus annus.

– 25/1/1994, Huấn thị Varietates legitimae của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các bí tích, được chào đón như Hiến chương cho việc “hội nhập văn hoá”, dựa theo những hướng dẫn của Tông thư Vicesimus annus nhắm đến tương lai.

– 28/3/2001, Huấn thị Liturgiam authenticam của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các bí tích quy định việc dịch thuật các sách phụng vụ, liên quan mật thiết với vấn đề “hội nhập văn hoá”.

Cùng với các văn kiện, chúng ta cũng phải kể thêm việc tiếp tục công tác “cải tổ” của giai đoạn trước, qua việc xuất bản những cuốn sách mới hoàn tất, chẳng hạn Bộ tuyển tập các bài lễ kính Đức Mẹ (15-08-1986), dựa theo tinh thần của văn kiện Marialis cultus của đức Phaolô VI (2-2-1974) đồng thời cũng đáp ứng yêu cầu diễn tả tương quan giữa “Phụng vụ và lòng đạo đức bình dân” mà hai năm sau đó sẽ được đề cập trong Tông thư Vigesimus quintus annus. Cũng có thể xếp vào hạng này việc duyệt lại một vài nghi thức đã ban hành trước đây, chẳng hạn như lễ nghi truyền chức thánh và lễ nghi hôn phối, và đặc biệt là Sách Lễ Rôma (với các ấn bản năm 1975 và 2000).

Một loạt văn kiện khác cũng được xếp vào giai đoạn “đổi mới phụng vụ” kéo dài cho hết triều của đức thánh cha Gioan Phaolô II, mà người gọi là “đào sâu” thêm mầu nhiệm phụng vụ và giáo huấn của Sacrosanctum concilium, như sẽ thấy dưới đây (Spiritus et sponsa).

– 3/5/1998, Tông thư Dies Domini, về sự thánh hoá ngày Chúa nhật, một chủ đề then chốt trong việc đào tạo và sống phụng vụ của toàn thể Dân Chúa, vì biểu lộ căn cước và sứ mạng của mình.

– 6/1/2001, Tông thư Novo millennio ineunte, vạch ra một kế hoặc phụng vụ cho Hội thánh khi bước sang thiên niên kỷ thứ ba. Văn kiện nói đến mối liên hệ giữa phụng vụ - Lời Chúa – đời sống và sứ vụ, dựa theo lược đồ của Thượng hội đồng giám mục năm 1985.

– 17/12/2001, Hướng dẫn về Lòng đạo đức bình dân và Phụng vụ do Bộ Phụng tự xuất bản. Văn kiện này đáp ứng lại những đường hướng được vạch ra trong Tông thư Vicesimus quintus annus và đã được diễn tả trong Bộ tuyển tập các bài lễ kính Đức Mẹ đã nhắc trên đây. Văn kiện đánh dấu một dấu mốc quan trọng trong lãnh vực về lòng đạo đức bình dân.

– 17/4/2003, Thông điệp Ecclesia de Eucharistia, một văn kiện rất quan trọng trong đường hướng “đổi mới và đào sâu”, nhằm hiểu biết vai trò của phụng vụ trong đời sống của Hội thánh và của mỗi tín hữu. Văn kiện cũng muốn chấn chỉnh những lạm dụng và trình bày Mẹ Maria như một mẫu gương tham dự phụng vụ.

– 28/6/2003, Tông huấn Ecclesia in Europa dành một chương về phụng vụ với tựa đề Cử hành Tin Mừng Hy vọng, tổng hợp những ý tưởng chính của Giáo hội về việc “đổi mới phụng vụ”.

– 4/12/2003, Tông thư Spiritus et Sponsa, kỷ niệm 40 năm Hiến chế Sacrosanctum concilium, giải thích ý nghĩa của giai đoạn mới, “từ đổi mới đến đào sâu” (số 6-10).

– 25/3/2004, Huấn thị Redemptionis Sacramentum của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các bí tích, đáp lại những yêu cầu của thông điệp Ecclesia de Eucharistia. Văn kiện này giúp có một khái niệm chính xác về việc cử hành phụng vụ theo chiều hướng “đào sâu”, chứ không chỉ giới hạn vào việc tố cáo những lạm dụng và sai lầm.

– 7/10/2004, Tông thư Mane nobiscum Domine triệu tập “Năm Thánh Thể”, kéo dài hướng đi đã nói trong Novo millennio ineunte và Ecclesia de Eucharistia.

III. Thời đức Bênêđictô XVI


Vào lúc đức Bênêđictô XVI bắt đầu chức vụ giáo hoàng, tình hình phụng vụ của Hội thánh có thể tóm như sau: có nhiều thành công trong việc cử hành phụng vụ, nhưng con số các tín hữu tham dự phụng vụ đã bị suy giảm đáng kể; các giáo sĩ tỏ ra mệt mỏi và điều này ảnh hưởng đến đời sống phụng vụ; bầu khí thế tục hoá xuất hiện bên trong và bên ngoài Hội thánh; những phong trào chống đối cuộc cải tổ của công đồng vẫn tồn tại; nguy cơ đáng lo ngại nhất là trong việc cử hành phụng vụ người ta đặt nặng yếu tố con người, dẫn tới việc “sáng chế” các buổi cử hành, coi nhẹ các nguyên tắc đã được quy định. Khỏi nói ai cũng đoán được hệ quả nguy hại của thái độ ấy đối với sự hiệp thông đức tin trong Hội thánh.

Trước khi được bầu vào chức vụ lãnh đạo Giáo hội, đức hồng y Joseph Ratzinger đã có nhiều bài viết về việc cử hành phụng vụ, nêu bật tính cách trang nghiêm và thẩm mỹ của phụng vụ, được thu lại trong cuốn sách “Tinh thần phụng vụ” (Der Geist der Liturgie, Herder 2000; bản dịch tiếng Anh: The Spirit of the Liturgy, Ignatius Press 2000).

Trong cương vị giáo hoàng, đức Bênêđictô XVI đã nhiều lần phát biểu quan điểm về phụng vụ, với chủ trương duy trì sự liên tục giữa phụng vụ trước và sau công đồng. Chúng ta có thể kể ra vài văn kiện tiêu biểu.

– 22/2/2007, Tông huấn Sacramentum caritatis đúc kết các thảo luận của Thượng hội đồng giám mục về Thánh Thể diễn ra trong khung cảnh của Năm Thánh Thể đã được nhắc ở đoạn cuối của giái đoạn trước. Nên ghi nhận tựa đề Sacramentum caritatis (Bí tích tình yêu) được móc nối với thông điệp đầu tiên Deus caritas est: dung nhan của Thiên Chúa Tình Yêu và ơn gọi của con người (được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa) được biểu lộ nhờ Thánh lễ và nhờ ân sủng do bí tích mang lại. Đối với Đức thánh cha, phụng vụ - đặc biệt là Thánh lễ - là một dấu hiệu hữu hình của sự hiện diện cứu độ của Thiên Chúa, một cuộc “khải thị” có giá trị ở tầm mức phổ quát mà người ngoại đạo cũng có thể nắm bắt, tuy rằng mục tiêu của nó là nuôi dưỡng sự sống của những người đã được rửa tội và mang lại động lực cho việc thánh hoá và truyền giáo (số 10). Kế đó, văn kiện kêu gọi việc cử hành trang trọng, nhắc nhở rằng việc “tham dự” đòi hỏi một hành vi cá vị tích cực, lắng nghe và dáp trả, dẫn tới hành động nhưng đồng thời cũng mời gọi thờ lạy, chiêm ngưỡng, thinh lặng. Từ đó, văn kiện cũng giải thích ý nghĩa của vài thực hành sau công đồng mà có lẽ đã mất đi ý nghĩa nguyên khởi của nó. (Chẳng hạn như Thánh lễ “đồng tế” như biểu lộ của sự hiệp thông trong chức tư tế, nhưng có nguy cơ biến thành một sự tập trung đông đảo linh mục, khi các vị đứng cách xa bàn thờ và không làm nổi bật sự hợp nhất với đức giám mục chủ sự; hoặc như “nhà nguyện thờ lạy Thánh Thể” tách xa thánh đường khiến cho thánh đường trở nên một nơi hội họp mà thiếu vẻ tôn nghiêm; hoặc khi cổ võ những phiên thờ lạy Mình Thánh Chúa tách rời khỏi Thánh lễ khiến cho người ta coi nhẹ việc thờ lạy ngay trong buổi cử hành Thánh lễ...)

– 7/7/2007, Tự sắc Summorum Pontificum mở rộng năng quyền sử dụng Sách Lễ năm 1962 đã được đức thánh cha Gioan Phaolô II mở ra với tự sắc Ecclesia Dei. Đàng sau quyết định này là cố gắng hoà giải với các cộng đồng đi theo phong trào của đức cha Lefebvre. Tuy nhiên, một văn kiện sau đó của Bộ Giáo lý Đức tin mời gọi có cái nhìn rộng rãi hơn, tức là chấp nhận sự đa dạng của Phụng vụ Rôma với hai hình thức liên tục theo dòng lịch sử. Cả hai giúp cho chúng ta có cái nhìn phong phú hơn về cách cử hành phụng vụ.

– 25/3/2009, Bộ Phụng tự và Kỷ luật các bí tích phát hành Compendium Eucharisticum (Toát yếu về bí tích Thánh Thể), gồm một nhập đề thần học về bí tích Thánh Thể, các bản văn của truyền thống Giáo hội giúp cho việc học hành và suy niệm, với dụng ý là giúp “đào sâu” phụng vụ để việc tham dự được hoàn bị hơn và mang lại nhiều hoa trái.

– 30/9/2010, Tông huấn Verbum Domini, đúc kết những thành quả của Thượng hội đồng giám mục về Lời Chúa. Nên nhắc lại là Thượng hội đồng giám mục khoá ngoại thường năm 1985 đã nói rằng Hội thánh sống nhờ Lời Chúa và Phụng vụ (cách riêng là các bí tích). Vì thế tông huấn đã dành một đoạn đặc biệt (số 52-71) để bàn về tương quan Phụng vụ và Lời Chúa.

– 30/8/2011, Tự sắc Quaerit semper xếp đặt lại thẩm quyền của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các bí tích. Từ này, việc xét hồ sơ liên quan đến kỷ luật các bí tích được chuyển sang Toà thượng thẩm Rôma (Rota Romana), ngõ hầu “Bộ Phụng vụ dành trọn nỗ lực vào việc cổ võ Phụng vụ, theo hướng đổi mới của công đồng Vaticanô II kể từ Hiến chế Sacrosanctum Concilium”.

Bên cạnh các văn kiện mang tính pháp lý, đức Bênêđictô XVI còn muốn cổ động việc cử hành phụng vụ trang nghiêm qua chính các buổi cử hành mà ngài chủ sự tại Rôma hoặc các nơi khác, với việc nêu bật vài chi tiết (đã được dự liệu trong các văn kiện):

– Chú trọng đến sự thinh lặng trong Thánh lễ, cách riêng là sau bài giảng và sau khi hiệp lễ.

– Vào những lễ trọng, dùng những phẩm phục trang trọng cũng như các đồ trang trí bàn thờ.

– Yêu cầu những người lên rước lễ hãy tỏ dấu cung kính (quỳ gối, hoặc lãnh bánh thánh trên lưỡi).

Vài chi tiết khác chỉ tuỳ theo sự lựa chọn của khung cảnh, chẳng hạn như đặt thánh giá trên bàn thờ (ở giữa hay ở bên một góc), việc chọn lựa các bài hát bình ca, vv.

Tóm lại, có thể nói được rằng giai đoạn ba chú ý đến “mục vụ phụng vụ”: dựa trên những bản văn của phụng vụ đã được ban hành, cần tìm cách diễn tả thành buổi cử hành trang nghiêm, giúp cho các tín hữu tham gia cách có ý thức. Theo ước nguyện của Hiến chế Phụng vụ, được giải thích trong Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, phụng vụ phải là trường đào tạo đời sống đức tin và sứ vụ cho tất cả các tín hữu.

Kết luận


Tác giả kết thúc bài thuyết trình ở thời đức thánh cha Bênêđictô XVI. Triều đại của đức thánh cha Phanxicô còn quá mới, chưa đủ để tạo ra một giai đoạn. Tuy vậy, chúng ta có thể nhận ra vài nét đặc biệt của ngài về phụng vụ rút từ vài hành động và giáo huấn của ngài. Trước hết, ngài trọ ở cư xá Santa Marta (thay vì tại biệt điện), và hàng ngày cử hành Thánh lễ đồng tế với các giám mục và linh mục, dành cho những cộng đoàn khác nhau: đây là một điểm nêu bật tính cách cộng đoàn của phụng vụ. Thứ đến, trong Tông thư Evangelii gaudium, Đức thánh cha đã đề cập đến phụng vụ ở vài đoạn trong chương ba, được coi như trọng tâm bởi vì đụng đến việc “loan báo Tin Mừng”. Ở số 122-126, ngài nhấn mạnh tầm quan trọng của lòng đạo đức bình dân đối với việc loan báo Tin Mừng. Các số 135-159 được dành cho bài giảng trong Thánh lễ, và ngài đã thi hành mỗi ngày tại cư xá Santa Marta, dành cho nhiều thành phần Dân Chúa.

Trong bài này, tác giả chỉ đề cập đến những văn kiện quan trọng liên quan đến việc cải tổ các sách phụng vụ. Nhiều văn kiện khác không được nhắc đến, chẳng hạn như liên quan đến thánh nhạc, nghệ thuật thánh. Danh sách đầy đủ hơn về các văn kiện này có thể tìm thấy trong các bộ sưu tập của

– Reiner, KACZYNSKI (ed.) Enchiridion documentorum instaurationis liturgicae, vol.I (1963-73), Marietti, Torino 1976; vol.II (1973-1983), CLV, Roma 1988; vol.III (1983-1993), CLV, Roma 1997. Các nguyên bản Latinh được xếp theo thứ tự thời gian.

– CENTRO AZIONE LITURGICA, Enchiridion Liturgico. Tutti i testi fondamentali della liturgia tradotti, annotati e attualizzati, Piemme, Casale Monferrato, 19942. Các văn kiện được dịch sang tiếng Ý và xếp theo các đề mục chính: Cải tổ phụng vụ. Thánh Thể. Các bí tích. Các á-bí-tích. Phụng vụ giờ kinh. Thánh Nhạc. Các văn kiện.

Phụ trương : Những sách phụng vụ được duyệt lại sau công đồng Vaticanô II


Công đồng Vaticanô II đã quyết định duyệt lại các sách phụng vụ (Hiến chế Phụng vụ, chương 3-4). Cho đến nay, những sách sau đây đã được phát hành bằng bản gốc La tinh (editio typica), xếp theo thứ tự thời gian phát hành. Nhiều cuốn đã được tái bản và sửa đổi (chẳng hạn Sách Lễ Rôma). Thông thường các sách được phát hành do nghị định của Tổng trưởng Bộ phụng tự, tuy nhiên khi có những thay đổi quan trọng về đạo lý (chẳng hạn về mô thức của bí tích) thì còn được mở đầu với một tông hiến của đức thánh cha Phaolô VI.

Trước tiên, chúng tôi xin liệt kê theo thứ tự thời gian (kể từ năm 1968 cho đến năm 2001), với những lần tái bản; kế đó các sách được xếp đặt theo thứ tự hệ thống (bí tích, á-bí-tích); sau cùng là các bản dịch tiếng Việt.

Các sách Nghi thức theo thứ tự thời gian


15/08/68 De ordinatione Diaconi, Presbyteri et Episcopi (cf 29/06/89); 19/03/69 Ordo celebrandi Matrimonium (cf 19/03/90); 21/03/69 Calendarium Romanum; 06/04/69 Ordo Missae; 15/05/69 Ordo Baptismi parvulorum; 25/05/69 Ordo lectionum missae (cf 30/09/70 e 21/01/81); 15/08/69 Ordo Exsequiarum; 02/02/70 Ordo Professionis religiosae; 26/03/70 Missale Romanum (cf 25/03/75); 31/05/70 Ordo consecrationis virginum; 30/09/70 Missale Romanum: Lectionarium (vol. I, II, III; cf 25/05/69 e 21/01/81); 18/10/70 Missale parvum, ad usum sacerdotis itinerantis; 09/11/70 Ordo benedictionis Abbatis et Abbatissae; 03/12/70 Ordo benedicendi oleum catechumenorum et informorum et conficiendi chrisma; 11/04/71 Officium divinum: Liturgia Horarum (vol. I, II, III, IV; cf 07/04/85); 22/08/71 Ordo Confirmationis; 06/01/72 Ordo initiationis christianae adultorum; 24/06/72 Ordo cantus Missae; 03/12/72 De institutione Lectorum et Acolythorum. De admissione inter candidatos ad Diaconatum et Presbyteratum. De sacro caelibatu amplectendo; 07/12/72 Ordo Unctionis infirmorum; 21/06/73 De sacra Communione et de cultu mysterii eucharistici extra Missam; 01/11/73 Directorium de missis cum pueris; 02/12/73 Ordo Paenitentiae; 22/11/74 Graduale simplex (editio altera; la prima era stata pubblicata nel 1967); 25/03/75 Missale Romanum (editio altera; cf 26/03/70); 29/05/77 Ordo dedicationis ecclesiae et altaris; 21/01/81 Ordo lectionum Missae (editio altera; cf 25/05/69 e 30/09/70); 25/03/81 Ordo coronandi imaginem beatae Mariae Virginis; 31/05/84 De benedictionibus; 14/09/84 Caeremoniale Episcoporum; 07/04/85 Officium divinum: Liturgia horarum (editio altera; cf 11/04/71); 15/08/86 Collectio missarum de beata Maria Virgine e Lectionarium pro missis de beata Maria Virgine; 08/02/89 Passio Domini Nostri Iesu Christi; 29/06/89 De ordinatione Episcopi, Presbyterorum et Diaconorum (editio altera; cf 15/08/68); 19/03/90 Ordo celebrandi Matrimonium (editio altera; cf 19/03/69); 22/11/98 De Exorcismis et supplicationibus quibusdam; 20/04/00 Missale Romanum (editio typica tertia); 29/06/01 Martyrologium Romanum.

Các sách nghi thức theo thứ tự hệ thống: Bí tích, Á-bí-tích, các việc phụng tự khác.


A. CÁC BÍ TÍCH

0. Ordo Initiationis Christianae Adultorum (Các bí tích khai tâm: 1972; tái bản năm 1974).

1. Rửa tội. Ordo Baptismi Parvulorum (1969; tái bản 1973)

2. Thêm sức. Ordo Confirmationis (1971). PAULUS VI Const. Ap. Divinae consortium naturae

3. Thánh Thể. Gồm nhiều phần: Sách lễ: Ordo Missae (1969). PAULUS VI Const. Ap. Missale Romanum. Missale Romanum (1970; 1975; 2000). Sách bài đọc: Ordo Lectionum Missae (1970; tái bản 1981). Sách lễ thiếu nhi: Directorium de Missis cum pueris (1973). Các kinh nguyện Tạ ơn mới: Preces eucharisticae pro Missis cum pueris et pro Missis de Reconciliatione (1974). Prex eucharistica quae in Missis pro variis necessitatibus adhiberi potest (1991). Các bài lễ về Đức Mẹ: Collectio Missarum de beata Maria virgine - Lectionarium pro Missis de BMV (1986). Tôn thờ Thánh Thể: De Sacra Communione et de Cultu mysterii Eucharistici extra Missam (1973)

4. Thống hối. Ordo Paenitentiae (1974)

5. Xức dầu bệnh nhân. Ordo Unctionis Infirmorum eorumque pastoralis curae (1972). PAULUS VI Const. Ap. Sacram Unctionem Infirmorum. Lễ nghi an táng: Ordo Exsequiarum (1969)

6. Truyền chức thánh

De Ordinatione Diaconi, Presbyteri et Episcopi (1968). PAULUS VI Const. Ap. Pontificalis Romani recognitio. Tái bản năm 1989: De Ordinatione Episcopi, Presbyterorum et Diaconorum. (Lần tái bản thêm phần dẫn nhập, và xếp đặt lại thứ tự các chức thánh, từ trên đi xuống thay vì từ dưới đi lên).

De Institutione Lectorum et Acolythorum (1972). cf. PAULUS VI Motu proprio Ministeria quaedam.

7. Hôn phối

Ordo Celebrandi Matrimonium (1969). Tái bản năm 1990 thêm phần dẫn nhập.

B. CÁC Á-BÍ-TÍCH

1. Cung hiến thánh đường và bàn thờ: Ordo dedicationis ecclesiae et altaris (1977).

2. Làm phép dầu: Ordo benedicendi oleum catechumenorum et conficiendi chrisma (1970).

3. Các việc chúc lành: De benedictionibus (1984).

4. Chúc phong viện phụ và viện mẫu: Ordo benedictionibus Abbatis et Abbatissae (1970).

5. Thánh hiến các trinh nữ: Ordo consecrationis virginum (1970).

6. Khấn dòng: Ordo professionis religiosae (1970).

7. Trừ tà: De exorcismis et supplicationibus quibusdam (1998).

C. CÁC SÁCH KHÁC

1. Phụng vụ giờ kinh: Liturgia Horarum (1971; tái bản 1985).

2. Nghi lễ các giám mục: Caeremoniale Episcoporum (1984).

3. Tử đạo thư: Martyrologium Romanum (2001).

4. Lịch phụng vụ: Calendarium Romanum (1969) (kèm theo Kinh cầu các thánh).

Các sách cử hành bí tích và á bí tích được Toà thánh chuẩn y (hầu hết trước năm 1975)[7]:

15/5/67, Sách Nghi thức Thêm sức. 15/5/67, Sách Nghi thức cử hành bí tích Hôn phối. 15/5/67, Sách Nghi thức làm phép dầu dự tòng, dầu bệnh nhân và dầu thánh. 15/5/67, Sách Nghi thức đón tiếp giám mục tại giáo xứ. 1/2/68, Sách Nghi thức Xức dầu Bệnh nhân và việc mục bệnh nhân. 30/7/69, Sách Nghi thức Truyền chức phó tế và linh mục (ấn bản mẫu lần thứ nhất). 30/7/69, Sách Nghi thức cử hành bí tích Hôn phối. 1/4/70, Sách Nghi thức Bí tích Rửa tội trẻ con. 21/11/70, Sách Nghi thức an táng. 11/1/72, Sách Nghi thức Thêm sức. 11/1/72, Sách Nghi thức làm phép dầu dự tòng và dầu bệnh nhân, và dầu thánh. 7/4/72, Sách Nghi thức thánh hiến các trinh nữ. 7/4/72, Sách nghi thức khấn dòng. 10/7/73, Sách Nghi thức đặt thừa tác vụ đọc sách, giúp lễ; Nghi thức tiếp nhận vào hàng các ứng viên lên chức phó tế và linh mục; Nghi thức chấp nhận bậc độc thân. 13/3/74, Sách Nghi thức khai tâm Kitô giáo cho người lớn. 3/10/74, Sách Nghi thức về việc rước lễ và tôn sùng mầu nhiệm Thánh Thể ngoài Thánh lễ. 4/12/74, Sách Nghi thức Truyền chức giám mục (ấn bản lần thứ nhất). Bản dịch Sách Nghi thức Truyền chức giám mục, linh mục và phó tế (ấn bản mẫu lần thứ II) đã được Hội đồng Giám mục Nam Việt Nam cho phép dùng tạm, theo đặc ân của Toà thánh ban cho. 4/12/74, Sách Nghi thức Xức dầu Bệnh nhân và việc mục vụ bệnh nhân. 9/12/82, Sách Nghi thức đội triều thiên tượng Đức Mẹ. 11/12/82, Công thức giải tội cho từng cá nhân. 17/8/83, Công thức giải tội cho nhiều người cùng lúc (giải tội tập thể). 20/2/2008, Nghi thức cử hành hôn nhân.

Những cuốn chưa được dịch hoặc chưa được chuẩn y


Ordo paenitentiae (1973);

Ordo dedicationis ecclesiae et altaris (1978);

Ordo Lectionum Missae, editito typica altera (1981);

De Benedictionibus (1984);

Caeremoniale Episcoporum (1984);

Collectio Missarum de Beata Maria Virgine et Lectionarium pro Missis de Beata Maria Virgine (1986);

De Exorcismis et supplicationibus quibusdam (1999);

Liturgia Horarum, Officium lectionis (các bài đọc Kinh Thánh và các giáo phụ).
________
[1] Nguồn: http://www.almudi.org/Articulos/ID/1197/El-panorama-liturgico-actual-el-pontificado-de-Benedicto-XVI

[2] Chú thích của người dịch. Để hiểu rõ bản văn của công đồng Vaticanô II, cần phải đi lùi lại lịch sử của “phong trào phụng vụ” bắt đầu từ đầu thế kỷ XX, và những cuộc canh tân bắt đầu dưới thời đức Piô XII, cũng như những cuộc tranh luận tại công đồng. Vấn đề này đã được trình bày trong các giáo trình về phụng vụ. Ở đây chúng tôi chỉ theo dõi giai đoạn sau công đồng.

[3] Chú thích của người dịch. Bản văn Latinh của Hiến chế dùng từ ngữ instauratio thay vì reformatio (số 21; 24). Sau công đồng, việc cải tổ phụng vụ được trao cho một uỷ ban đặc biệt Consilium ad exsequendam Constitutionem de sacra Liturgia, được đức thánh cha Phaolô VI thiết lập ngày 29/1/1964, do hồng y Giacomo Lercaro làm chủ tịch và cha Annibale Bugnini làm tổng thư ký, gồm 50 hồng y và giám mục cùng với hơn 200 chuyên viên. Uỷ ban này chấm dứt nhiệm vụ sau 5 năm hoạt động và trao lại công việc của Bộ Phụng tự (1969). Nên biết là cơ quan này trước đây mang tên là “Thánh bộ Nghi lễ”, và được đổi tên thành “Thánh bộ Phụng tự” từ ngày 8/5/1969. Ngày 11/7/1975, Bộ này được sát nhập với bộ Kỷ luật các bí tích, để rồi lại tách ra làm hai dưới thời đức Gioan Phaolô II (ngày 5/4/1984), và nhập lại làm một khi ban hành Tông hiến Pastor bonus (28/6/1988).

[4] Chú thích của người dịch. Ở cuối bài, chúng tôi sẽ liệt kê các nghi thức đã được duyệt lại từ sau công đồng, kéo dài cho đến năm 2001. Ở đây chỉ nên nhắc đến các huấn thị hướng dẫn việc áp dụng, cách riêng trong việc dịch thuật và thích nghi các bản văn: 1/ Inter oecumenici về việc thực thi Hiến chế công đồng (26/9/1964). 2/ Tres abhinc annos (4/5/1967). 3/ De interpretatione textuum liturgicum về việc dịch các bản văn phụng vụ (15/1/1969). 4/ Liturgicae instaurationes (5/9/1970). 5/ Varietates legitimae về nghi điển Rôma với việc hội nhập văn hoá (29/3/1994). 6/ Liturgiam authenticam (7/5/2001).

[5] Trước đây, các sách phụng vụ bí tích được in bằng chữ đen (những kinh phải đọc) và chữ đỏ (những quy luật phải tuân hành). Sau công đồng, các “chữ đen” và “chữ đỏ” vẫn còn được duy trì, nhưng mở đầu sách Nghi thức là những lời dẫn nhập (Praenotanda), giải thích ý nghĩa thần học của nghi thức cũng như ý nghĩa của các cử chỉ và công thức; ngoài ra còn cho biết những gì có thể thích nghi tuỳ hoàn cảnh, và cách riêng là sự lựa chọn các bài đọc Sách Thánh.

[6] Chú thích của người dịch. Mục lục cuốn sách gồm những phần sau:
I. Phụng vụ giám mục nói chung. II. Thánh lễ. III. Phụng vụ các giờ kinh và việc cử hành Lời Chúa. IV. Việc cử hành các mầu nhiệm Chúa Kitô trong năm. V. Các bí tích. VI. Các á bí tích. VII. Những ngày đặc biệt quan trọng trong đời sống giám mục. VIII. Những cuộc cử hành nhân vài biến cố (công đồng, công nghị, kinh lý, cha sở tựu chức).

[7] Dựa theo tài liệu Phụng tự tại Việt Nam trong 50 năm qua (1960-2010) của Uỷ ban Phụng tự Hội đồng giám mục Việt Nam, ở địa chỉ http://www.hdgmvietnam.org/phung-tu-tai-viet-nam-trong-50-nam-qua-1960-2010-1/2363.103.12.aspx

Thứ Ba, 6 tháng 8, 2019

THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC 2012 : NHỮNG GÌ CÒN LẠI

Thời sự Thần học - Số 59, tháng 02/2013, tr. 197-207

Sandro Magister


Nhiều cơ quan thông tấn đã tường thuật các phiên họp Thượng Hội đồng Giám mục thế giới lần thứ XIII bàn về việc loan báo Tin Mừng mới mẻ để truyền đạt đức tin Kitô giáo (7-28/10/2012). Chúng tôi muốn dịch bài “nhật ký” của ký giả Sandro Magister (viết cho báo Espresso, Repubblica ngày 5/11/2012) lược tóm những nét nổi bật của khóa họp qua các kiến nghị, các bài phát biểu trong đó nổi bật nhất là “ba viên ngọc”[1]; tiếp đó là bài phát biểu của cha Adolfo Nicolas, tổng quyền Dòng Tên, phản ánh phần nào cảm tưởng thừa sai tại Viễn Đông nơi mà cha đã làm việc lâu năm. _Tsth chuyển ngữ_