VIỆC XỨC DẦU “CRISMA” TRONG TRUYỀN THỐNG ĐÔNG PHƯƠNG: Lịch sử, Giáo luật và Thực hành

Thời sự Thần học - Số 104, tháng 05/2024, tr. 123-144

@  Stefano Parenti


Lm. Phaolô Cao Chu Vũ, O.P. lược dịch.

Sau công đồng Vaticanô II, khi cải tổ nghi thức cử hành bí tích Thêm Sức (1971), ĐTC Phaolô VI quyết định sử dụng mô thức trích từ nghi điển Byzantin “Hãy nhận lấy ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”.
Tác giả muốn tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa của mô thức ấy.
1. Việc xức dầu crisma trong bí tích Khai tâm.
2. Nguồn gốc của mô thức “Ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”.
3. Việc xức dầu crisma sau bí tích Rửa Tội.
4. Ấn tín nào?
5. Nghi thức hòa giải và tiếp nhận.
Nguồn: Stefano Parenti, La crismazione nella tradizione orientale: storia, canone, prassi, in: Rivista Liturgica 110 (2023) 173-190.

Giới thiệu


Với Tông Hiến Divinae consortium naturae (15/8/1971), Giáo hội Latinh đã nhìn nhận công thức xức dầu crisma của truyền thống Byzantine, quý trọng công thức này vì tính cổ xưa và phong phú của nó. Đức Giáo hoàng Phaolô VI viết:
Ở Đông phương, vào thế kỷ IV và V, trong nghi thức xức dầu crisma, chúng ta đọc thấy những lời mở đầu như sau: signaculum doni Spiritus Sancti (ấn tín ơn Chúa Thánh Thần)[1]. Những lời này đã sớm được Giáo hội ở Constantinople chấp nhận và vẫn được các Giáo hội theo nghi thức Byzantine sử dụng. Tuy nhiên, ở Tây phương, những lời của nghi thức này, mà nó hoàn tất Bí tích Rửa Tội, đã không được thiết lập rõ ràng cho đến thế kỷ XII và XIII. Trong Sách Giáo chủ Rôma (Pontificale Romanum) đến thế kỷ XII, công thức xuất hiện lần đầu tiên và sau đó trở nên phổ biến là: Cha ghi dấu Thánh giá trên con và thêm sức cho con bằng dầu crisma của ơn cứu độ. Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần[2]. […] 
Đối với những lời được công bố khi xức dầu crisma, chúng ta thực sự nhìn nhận, xét theo giá trị đúng đắn của nó, phẩm giá của công thức đáng kính này, được sử dụng trong Giáo hội Latinh. Đối với công thức này, chúng tôi cho rằng công thức rất cổ xưa của nghi thức Byzantine nên được ưu tiên hơn, trong đó ơn Chúa Thánh Thần được diễn tả và gợi nhắc việc Chúa Thánh Thần được tuôn đổ, xảy ra vào ngày Lễ Ngũ tuần (x. Cv 2,1-4. 38). Vì vậy, chúng tôi nhìn nhận công thức này và sử dụng nó gần như nguyên văn.

Tính cổ xưa của mô thức “signaculum doni Spiritus Sancti” được minh chứng bởi một trích dẫn trong sách Giáo lý XVIII, 33 của thánh Cyrillô thành Giêrusalem [CPG 3585. 2][3], trong một bài giảng về dụ ngôn Người con hoang đàng của Asterius thành Amasea, và trong một bức thư của một Thượng phụ Constantinople gửi cho Martyrius, giám mục. Chúng ta thấy Tông hiến của Đức Phaolô VI đề cao mô thức này của truyền thống Đông phương, nhưng ngày nay, sau hơn 50 năm nghiên cứu, người ta đã đạt được những bước ngoặt quan trọng trong sự hiểu biết về việc khai tâm Kitô giáo của các Giáo hội Đông phương. Thật vậy, cho đến thế kỷ VI, Giáo hội ở Constantinople không biết đến việc xức dầu crisma sau nghi thức rửa tội để ban ơn Chúa Thánh Thần. Cyrillô đề cập đến các nghi lễ của Giáo hội ở Giêrusalem, chứ không phải của Giáo hội ở Constantinople, nơi mà tầm quan trọng của phụng vụ vào thế kỷ thứ IV chưa được đề cao. Như chúng ta sẽ thấy, bản văn được trích dẫn trong bài giảng của Asterius thành Amasea là một sự suy luận của tác giả, và lá thư gửi cho Martyrius giám mục, trong đó trích dẫn công thức “ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”, không đề cập đến nghi thức khai tâm Kitô giáo nhưng nói đến sự hòa giải những người lạc giáo trở về.

Như chúng ta biết, Tông hiến đã trích dẫn một bản văn quy điển, thuộc Thiên niên kỷ I, đó là bức thư gửi cho Martyrius, mà theo đó truyền thống Chính thống giáo nhìn nhận việc xức dầu crisma sau nghi thức rửa tội cho đến ngày nay. Vì lý do đó, trong số bảy truyền thống Đông phương hiện đang thực hành nghi thức này, chúng ta sẽ chỉ xem xét truyền thống Byzantine.

Trước hết, chúng ta sẽ tìm hiểu cách tổng quát việc xức dầu crisma trong nghi thức khai tâm Kitô giáo. Sau đó, chúng ta tìm hiểu nguồn gốc của mô thức “ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”. Cuối cùng, chúng ta tìm hiểu việc sử dụng công thức này ngoài nghi thức khai tâm Kitô giáo, nghĩa là nghi thức tiếp nhận các Kitô hữu thuộc các hệ phái Kitô khác vào sự hiệp thông với Giáo hội Chính thống.

1. Việc xức dầu Crisma trong Nghi thức Khai tâm


Như chúng ta biết, tất cả các Giáo hội Đông phương đã duy trì truyền thống cử hành đồng thời ba bí tích Khai tâm, đó là Rửa tội, xức dầu crisma (còn gọi là myron) và Thánh Thể, cho người trưởng thành cũng như trẻ sơ sinh. Có một số trường hợp ngoại lệ, đó là một số Giáo hội Công giáo Đông phương, đã bỏ truyền thống này, thậm chí bỏ luôn cả tập tục dìm vào nước của nghi thức rửa tội, và không có ý định khôi phục tập tục này bất chấp những lời kêu gọi của một số văn kiện hậu Công đồng[4].

Thừa tác viên thông thường của ba bí tích Khai tâm là linh mục. Việc này không ảnh hưởng gì đến quyền của Giám mục chủ tọa, nếu ngài muốn, vốn là thừa tác viên thông thường của tất cả các bí tích. Việc cử hành đồng thời ba bí tích Khai tâm đã đương nhiên loại trừ thừa tác vụ phó tế.

Trong nghi thức rửa tội, sau khi được dìm vào nước, người tân tòng mặc áo trắng, đứng trước mặt thừa tác viên, rồi ngài đọc lời nguyện sau đây:
Lạy Chúa, chúc tụng Chúa, là Thiên Chúa toàn năng, là nguồn mạch mọi sự tốt lành, là mặt trời công chính. Qua sự tỏ bày của Con Một Chúa, là Thiên Chúa chúng con, Chúa đã chiếu sáng ánh sáng cứu độ cho những ai ở trong bóng tối, và Chúa đã ban cho chúng con, là những kẻ bất xứng, ơn thanh tẩy trong nước thánh và ơn thánh hóa bằng việc xức dầu ban sự sống. Chúa đã muốn tái sinh tôi tớ Chúa đây bằng nước và Thánh Thần, và Chúa đã ban cho họ ơn tha thứ mọi tội cố ý và vô ý. Lạy Đấng Tối Cao nhân từ, xin hãy ban cho tôi tớ Chúa đây ấn tín ơn Thánh Thần của Chúa, là Đấng quyền năng và rất đáng tôn thờ, cũng như được rước Mình Thánh và Máu Châu Báu của Chúa Kitô. Xin gìn giữ tôi tớ Chúa đây trong sự thánh thiện, củng cố họ trong đức tin chân chính, xin giải thoát họ khỏi ma quỷ và mọi cạm bẫy của ma quỷ. Với quyền năng cứu độ của Chúa, xin hãy bảo vệ linh hồn họ trong sự trong sạch và công chính, để họ có thể làm đẹp lòng Chúa trong mọi hành động và lời nói, và để họ trở nên con cái Chúa và người thừa kế vương quốc của Chúa. Vì Chúa là Thiên Chúa chúng con, là Thiên Chúa của lòng thương xót và ơn cứu độ, và chúng con tôn vinh Chúa là Cha, Con và Thánh Thần, bây giờ và cho đến muôn đời. Amen[5].
Kết thúc lời cầu nguyện, thừa tác viên xức dầu crisma cho người tân tòng bằng cách vẽ dấu Thánh giá, bằng ngón tay cái, trên trán, mắt, mũi, miệng và tai, ngực, lưng, bàn chân và bàn tay của người tân tòng, mỗi lần xức thì nói: “Ấn tín ơn Chúa Thánh Thần. Amen”.

Sau khi xức dầu crisma, thừa tác viên, các tân tòng và cha/mẹ đỡ đầu đi vòng quanh giếng rửa tội ba lần, vừa đi vừa hát: “Những ai đã chịu phép rửa trong Ðức Kitô đều mặc lấy Ðức Kitô. Alleluia” (Gl 3,27). Sau đó, đoàn rước tiến vào nhà thờ.

Đến phần hiệp lễ, các tân tòng được rước lễ lần đầu ngay trong cử hành phụng vụ đó, nhưng thông thường việc hiệp lễ lần đầu này sẽ được dời sang thánh lễ Chúa nhật nếu việc khai tâm được cử hành vào ngày thường trong tuần.

Những khác biệt so với nghi thức của Giáo hội Rôma là rất đáng kể: lời cầu nguyện và/hoặc nghi thức không nối kết ơn Chúa Thánh Thần với Is 11,2, không trình bày biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Tông đồ vào ngày Lễ Ngũ tuần (Cv 2,1-4), không chỉ xức dầu crisma trên trán, mà còn trên các phần thân thể khác và nhất là không có cử chỉ đặt tay. “Ấn tín ơn Chúa Thánh Thần” được ban khi xức dầu và việc hiệp lễ cùng được nhắc đến trong lời cầu nguyện. Do đó, mô thức của bí tích (theo quan niệm của Tây phương) và lời cầu nguyện phải được xem xét cùng với nhau, chứ không tách biệt.
Các nghi thức khai tâm đang thực hành hiện nay ở các Giáo hội Đông phương gần như tương tự với nguồn cổ xưa nhất mà chúng ta hiện có, đó là bộ Eucologio Barberini gr. 336, được chép lại ở Calabria sau năm 787, nhưng có một số khác biệt. Kinh nguyện mô tả việc khai tâm diễn ra trong Đêm Vọng Phục sinh, lời cầu nguyện dẫn vào việc xức dầu crisma ở số nhiều; điều này cho ta mường tượng hình ảnh một nhóm các anh chị em tân tòng được rửa tội trong đêm đó. Lời ca Gl 3,27 đi kèm với việc xức dầu crisma và mô thức được thừa tác viên công bố chỉ một lần và không có tiếng Amen kết thúc, ngài chỉ xức dầu lên trán, mắt, mũi, miệng và tai. Sau phần xức dầu crisma, thừa tác viên và các tân tòng xếp thành đoàn rước, từ giếng rửa tội tiến vào nhà thờ, đang khi đó hát Tv 31,1 tiếp theo là phần cử hành Phụng vụ Thánh Thể.[6]

2. Nguồn gốc của mô thức “Ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”


Như chúng ta biết, việc tiếp nhận hoặc tái nhận các tín hữu đến từ các Giáo hội Kitô khác vào sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội Công giáo luôn liên hệ mật thiết với việc khai tâm, như chúng ta thấy trong phần Phụ lục của Nghi thức khai tâm Kitô giáo cho những người trưởng thành[7].

Còn đối với các Giáo hội Đông phương, những cách tái nhận lần đầu tiên được thiết lập bởi Công nghị Laodicea (trước năm 378?), thuộc Thổ Nhĩ Kỳ. Khoản 7 xác định một thực hành đa dạng liên quan đến tính thành sự của bí tích Rửa tội được nhận từ Giáo hội trước đó: những người Phrygia và Montanist phải được rửa tội lại vì Bí tích Rửa tội mà họ đã nhận bị kể là vô hiệu, còn những người thuộc phái Novatian, Photinian và Quartodeciman có thể được rước lễ sau khi đã học tín biểu và được xức dầu crisma[8]. Ở khoản 48, Công nghị này cũng xác định: những người “được chiếu sáng” [illuminandi (φωτιζόμενοι)], sau khi đã được rửa tội, thì được xức dầu crisma thiên thượng (crisma celeste) để được tham dự vào chức vị vương đế của Đức Kitô[9]. Trong cùng những năm đó, việc xức dầu crisma sau khi nghi thức rửa tội cũng được ghi trong quyển VII của Costituzioni Apostoliche, và mang tính Kitô học như trong khoản 48 của Công nghị Laodicea:
Lạy Chúa là Thiên Chúa, là Đấng không được sinh ra cũng không khuất phục bất kỳ ai, là Chúa tể vũ trụ, Ngài đã lan tỏa một hương thơm ngào ngạt đến mọi quốc gia, là hương thơm của sự hiểu biết Tin Mừng, nay xin hãy ban dầu crisma hành động trên người đã được rửa tội này để hương thơm cao quý của Đức Kitô ở lại trên người này một cách kiên định và lâu dài; nhờ đó họ được cùng chết với Đức Kitô, cùng được phục sinh và sống với Người[10].
Việc xức dầu để tiếp nhận những người lạc giáo trở về được tìm thấy trong một bức thư của Basiliô thành Caesarea gửi cho Amphilochiô thành Iconio vào năm 374, nhưng chúng ta không biết loại dầu nào được dùng vào nghi thức này và mô thức của nghi thức mang tính Kitô học hay Thần Khí học. Như chúng ta biết, chính trong bối cảnh hòa giải những người lạc giáo trở về mà mô thức “ấn tín ơn Chúa Thánh Thần” xuất hiện lần đầu tiên, chính xác là trong một bức thư có niên đại khoảng năm 428, nó được kể vào Quy điển Êphêsô, trước đây được cho là của Thượng phụ Gennadius thành Constantinople (458-471), và được gửi tới Thượng phụ Martyrio thành Antiochia[11]. Chúng ta không biết tác giả thực sự của bức thư này là ai, nhưng sự kiện nó được kể là “khoản 7” trong số các điều khoản của Công đồng hoàn vũ năm 381 đã đảm bảo tính phổ biến và thế giá của nó:
Những người trong số những kẻ lạc giáo đến với đức tin chân chính và đến với cộng đoàn những người được cứu độ, chúng ta chào đón họ theo nghi thức và tập tục như sau: những người theo Ario, theo Macedonia, theo Sabbatean và theo Novatian, những người tự cho mình là “kẻ thanh sạch” và “kẻ bên hữu”, những người theo phái Quartodeciman, theo Tetradite và theo Apollinarist, chúng ta chào đón họ sau khi họ đã ký tên xác nhận và sau khi loại bỏ mọi lạc thuyết, vốn không tin như Giáo hội Công giáo và Tông truyền của Thiên Chúa tin, và chúng ta ghi dấu trên họ, nghĩa là chúng ta xức dầu crisma trên trán, mắt, mũi, miệng và tai của họ, và đang khi xức dầu, chúng ta nói: Ấn tín ơn Chúa Thánh Thần[12].
Cũng như Công nghị Laodicea, trong bức thư năm 428, chúng ta thấy phân biệt nhiều loại lạc giáo và ly giáo khác nhau và đưa ra những cách tiếp nhận khác nhau: những người theo Ario, theo Novatian, theo Quartodeciman và theo Apollinarist phải từ bỏ những sai lầm của họ và được xức dầu crisma, và nếu họ đã đảm nhận tác vụ nào trước khi tuyên bố từ bỏ sai lầm thì họ phải được tái phong chức. Còn những người theo Eunomian, theo Montanist hoặc Phrygian và những người theo Sabellian phải được rửa tội lại sau một tiến trình dự tòng: ngày đầu tiên là nghi thức tiếp nhận, ngày thứ hai là nghi thức dự tòng, ngày thứ ba là nghi thức trừ tà, sau đó là một khoảng thời gian được huấn giáo và lắng nghe Lời Chúa[13].

Theo phiên bản của bức thư nói trên trong Giáo hội Chính thống Syria[14], truyền thống xức dầu crisma trên các bộ phận của thân thể có phần khác với Giáo hội Chính thống Hy Lạp. Thật vậy, theo truyền thống Hy Lạp, việc xức dầu được thực hiện trên trán, mũi, tai, ngực và “tất cả các giác quan”, còn theo truyền thống Syria, thêm vào mắt. Hơn nữa, nếu so sánh bức thư theo hai phiên bản của nó và đoạn được thêm vào sau năm 428 với những điều khoản của Công đồng Constantinople năm 381, chúng ta thấy rằng việc xức dầu chỉ dành cho những bộ phận của đầu: trán, mắt, mũi, miệng và tai.

Như vậy, mô thức “Ấn tín ơn Chúa Thánh Thần” đã ra đời trong bối cảnh: việc xức dầu myron/crisma được thực hiện trong nghi thức hòa giải những người lạc giáo hoán cải, đã được rửa tội và tính thành sự của Bí tích này được công nhận. Mục đích của việc xức dầu này là để ban ơn Chúa Thánh Thần, là ơn ban mà lạc giáo không được phép chia sẻ bởi vì nó chỉ dành cho những ai tuyên xưng đức tin chân thật. Cả trong bức thư năm 428 lẫn điều khoản của Công đồng đều không thấy đề cập đến việc xức dầu crisma sau nghi thức rửa tội, mà ở Constantinople việc này chưa được biết đến vào thời Thượng Phụ Proclus (434-446). Tuy nhiên, điều này không ngăn cản một thực tế là: ở những nơi khác, như ở Syria (trong Costituzioni Apostoliche) và ở Tiểu Á (Thượng hội đồng Laodicea), vào những năm 70 và 80 của thế kỷ IV, người ta thấy việc xức dầu sau nghi thức rửa tội đã được thiết lập, dường như mang tính Kitô học.

3. Việc xức dầu Crisma sau Nghi thức Rửa tội


Trong bài giảng tại Constantinople vào ngày 05/01/380, vào đêm vọng lễ Hiển Linh, có nghi thức rửa tội, Grêgoriô thành Nazian nhắc đến bài ca của Thánh vịnh 31 mà chúng ta đã gặp trong bộ kinh nguyện (eucologio) Barberini gr. 336[15].

Bài giảng 27 [CPG 5826] của Thượng Phụ Proclus thành Constantinople († 446) trong Đêm canh thức Phục Sinh mô tả đoàn rước của các tân tòng tiến vào nhà thờ, đoàn rước cũng hát Thánh Vịnh 31[16], nhưng không đề cập gì đến bài ca nhập lễ lấy từ Gl 3,27 như trong bộ Barberini gr. 336, vốn có liên hệ mật thiết với việc xức dầu crisma sau nghi thức rửa tội.

Ngược lại, trong bài giảng 32, được cho là của Thượng phụ Proclus [CPG 5831], chúng ta có một ám chỉ kép đến Gl 3,27 và có một chứng từ trực tiếp đầu tiên đề cập đến việc xức dầu crisma sau nghi thức rửa tội[17], nhưng tác phẩm này bị nghi ngờ nhiều về tính xác thực và niên đại của nó[18].

Dẫu thế nào, nếu chúng ta coi việc hát Gl 3,27 là một dấu hiệu về việc xức dầu crisma sau nghi thức rửa tội trong Giáo hội ở Constantinople, thì chúng ta phải đợi các bài giảng 8 và 9 vào Lễ Phục Sinh [CPG 7990-7991] của linh mục Leontius, ở Byzantine vào năm 542 hoặc 577:
Hãy để những kẻ được Chúa cứu chuộc nói như vậy (Tv 106,2 [LXX]). Họ nói gì? Phúc cho những ai lỗi lầm mà được tha thứ và tội lỗi của họ được che phủ. Dây trói buộc đã đứt và chúng ta đã thoát khỏi (Tv 31,1 [LXX]). Hãy để những kẻ được Chúa cứu chuộc nói như vậy (Tv 106,2): Tôi đã cởi áo choàng rồi, tôi sẽ mặc áo nào đây? (Kn 5,3) Linh hồn tôi hãy vui mừng trong Chúa vì Ngài đã mặc cho tôi áo cứu độ và khoác cho tôi áo choàng công chính (Is 61,10 [LXX]). Những loại áo nào? Thưa, áo đức tin và áo choàng công chính. Những áo này là của ai? Thưa, của những ai đã chịu phép rửa trong Đức Kitô đều mặc lấy Đức Kitô (Gl 3,27). Tất nhiên, điều này có nghĩa là ta tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi không phân chia”[19].
Đây là lý do tại sao những người con của sự sống lại, như bạn thấy, không chỉ mặc áo rực rỡ mà còn mang những đôi dép cùng màu, bằng cách cởi bỏ sự cũ kỹ của Ađam và mặc lấy sự mới mẻ của Đức Kitô, là Thầy, như Thánh Phaolô nói: Những ai đã chịu phép rửa trong Đức Kitô đều mặc lấy Đức Kitô (Gl 3,27)[20].

Vì thiếu những nguồn chính xác hơn và trong khi chờ đợi việc phê bình văn bản để giải quyết các vấn đề phức tạp về tính xác thực và việc quy gán, thì việc xức dầu crisma sau nghi thức rửa tội trong Giáo hội ở Constantinopolitan, có thể nói, bắt đầu được thực hành vào khoảng thời gian từ sau cái chết của thượng phụ Proclus vào năm 446 và bài giảng năm 542 của linh mục Leontius.

4. “Ấn tín” nào ?


Việc xức dầu crisma sau nghi thức rửa tội (unzione crismale post-battesimale) đã làm suy yếu việc xức dầu dự tòng (unzione pre-battesimale), vốn làm cho người tân tòng nên giống Đức Kitô-Messia, với mô thức mang tính Kitô học, được trích từ Thánh vịnh 44,8 [LXX]: “Anh N. là người được xức dầu hoan lạc nhân danh Cha, Con và Thánh Thần”[21]. Qua lời nguyện làm phép dầu dự tòng, chúng ta thấy được mục đích nhắm tới của việc xức dầu này, mà tiếc rằng ý nghĩa này đã bị lu mờ trước sự nhấn mạnh đến ý nghĩa khử trừ ma quỷ:
Lạy Chúa, là Đấng Cao Cả, là Thiên Chúa của cha ông chúng con, Chúa đã sai đến với những người trên tàu Noê một con chim bồ câu ngậm cành ôliu, là biểu tượng của sự hòa giải và sự cứu thoát khỏi trận hồng thủy; như thế, tiên báo bí tích của ân sủng. Chúa đã dùng trái ôliu để cử hành các mầu nhiệm thánh của Chúa, xin đổ đầy tràn Chúa Thánh Thần xuống trên những người sống theo Luật Chúa và làm cho họ trở nên hoàn thiện khi họ sống trong Ân sủng. Xin Chúa chúc lành cho dầu này bằng quyền năng, hành động và sự ngự đến của Thần Khí Chúa; nhờ đó, dầu này trở thành dầu crisma bất hoại, công cụ của đức công chính, sự canh tân linh hồn và thể xác, sự bảo vệ hữu hiệu khỏi mọi ảnh hưởng của ma quỷ, giải thoát khỏi mọi sự dữ cho những người sẽ được xức dầu trong đức tin hoặc sẽ lãnh nhận nó để tôn vinh Chúa, Con Một của Chúa và Thần Khí của Chúa, là Đấng tốt lành và hằng sống, bây giờ và cho đến muôn đời”[22].
Bây giờ chúng ta đến với mô thức “ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”, có nền tảng Kinh Thánh trong Ep 1,13. Đây là lời thánh Phaolô nói với các Kitô hữu ở cộng đoàn Êphêsô: “Anh em đã được đóng ấn bằng Thánh Thần của lời hứa”. Giám mục Theodoret thành Cyrus († 458) đã bình giải lời trên của thánh Phaolô bằng những thuật ngữ rất gần với mô thức của việc xức dầu crisma:
Anh em đã được đóng ấn theo như lời tiên tri đã nói: Lạy Chúa, ánh sáng của thánh nhan Chúa đã in hằn trên chúng con (Tv 4,7b [LXX]), tức là anh em đã nhận được một dấu hiệu, ân sủng của Chúa Thánh Thần[23].
Mặc dù những lời của Theodoret có thể mang đậm dấu ấn của một số văn bản thuộc bộ Eucologio[24]; nhưng trong trường hợp cụ thể này, thật khó để khẳng định rằng Theodoret đang ám chỉ đến mô thức xức dầu crisma. Nếu đúng là như vậy, chúng ta sẽ có bằng chứng đầu tiên, theo như những gì chúng ta biết, về việc sử dụng mô thức trong việc khai tâm Kitô giáo, chứ không chỉ trong nghi thức hòa giải như được mô tả trong bức thư năm 428 gửi linh mục Antonio. Dẫu vậy, nên nhớ rằng chúng ta đang ở thế kỷ V, và lúc đó các cử hành phụng vụ thuần túy mang tính địa phương và sẽ không hợp lý về mặt phương pháp nếu mở rộng chúng đến Constantinople; mà ở thời điểm đó, Constantinople chưa có việc xức dầu crisma sau nghi thức rửa tội[25], và nó có những thực hành khác với truyền thống ở Antiochia.
Tông Hiến Divinae consortium naturae (15/8/1971) giải thích rằng mô thức xức dầu crisma của truyền thống Byzantine đã được Giáo hội Công giáo Latin tiếp nhận gần như sát từng chữ và thêm động từ ở thể mệnh lệnh “hãy nhận” (accipe) ấn tín (signaculum). Ở đây, một vấn đề học thuật được đặt ra: hiểu thế nào về khái niệm “ấn tín”, và mối liên hệ giữa “ấn tín” và ơn Chúa Thánh Thần. Theo tác giả Miguel Arranz, “ấn tín” hàm ý “đỉnh cao”; do đó mô thức xức dầu crisma sẽ ban cho người tân tòng ơn Chúa Thánh Thần ở mức độ cao nhất[26]. Tuy nhiên, sự giải thích của Miguel Arranz không vững vì tiếng Hy Lạp σφραγίς, thường được dịch là “con dấu”, ám chỉ một “dấu hiệu” hoặc “dấu ấn” thường tồn, hẳn nhiên còn mang tính linh thiêng, được in khắc trên trán của những người tân tòng qua cử chỉ xức dầu của thừa tác viên.

Vì trong lời cầu nguyện của bí tích (ở mục 1), không nói gì đến bản chất và chức năng của ấn tín, nên chúng ta cần chú ý đến lời cầu nguyện thánh hiến dầu myron. Thật vậy, theo truyền thống Byzantine, dầu myron được sử dụng trong nghi thức khai tâm, trong việc tiếp nhận hoặc tái nhận các Kitô hữu thuộc các Giáo hội Kitô khác, trong việc thánh hiến bàn thờ, nhưng không sử dụng trong việc truyền các chức thánh. Lời nguyện thánh hiến dầu myron gồm 2 phần: phần 1 “sai phái” (κατάπεμψον) và phần 2 “bày tỏ” (ἀνάδειξον), nối tiếp nhau. Chúng ta xem xét phần 2 :
Lạy Chúa là Thiên Chúa toàn năng, bằng sự ngự đến của Thần Khí thánh thiện của Chúa, xin hãy làm cho loại dầu này trở nên tấm áo bất hoại và ấn tín kiện toàn, được đóng ấn trên những người đã nhận phép rửa trong danh Cha, Con và Thánh Thần; như vậy, họ trở nên thành viên của gia đình và công dân của Chúa, tôi tớ của Chúa, xin thánh hóa linh hồn và thân xác họ, giúp họ xa lánh mọi điều xấu xa, và cứu chuộc họ khỏi mọi điều gian ác; bởi vì họ đã được mặc chiếc áo vinh quang không thể hư hoại của Chúa, thì xin cho họ được các thiên thần và tổng lãnh thiên thần cũng như mọi quyền thần trên trời nhìn nhận bởi dấu hiệu thánh thiêng này của Chúa, khiến cho mọi thần ô uế và ác quỷ phải kinh hãi, và nhờ được ghi dấu bởi dầu rất tinh tuyền này của Chúa, xin cho họ trở thành một dân trong sạch, hàng tư tế vương giả, dân tộc thánh thiện; họ có Đức Kitô của Chúa trong tâm hồn và trở thành nơi cư ngụ của Chúa Cha, trong Chúa Thánh Thần.
Lời cầu nguyện đặt “ấn tín” vào trong khung nhãn quan cánh chung nhờ mối liên hệ rất cổ xưa giữa việc xức dầu và cuộc phán xét chung mà chúng ta có thể tìm thấy, chẳng hạn, trong truyền thống Syria. Vào đầu những năm 1980, tác giả Sebastian Brock đã cho thấy rằng, cũng giống như nghi thức cắt bì của người Do Thái, ấn tín thiêng liêng được ghi khắc qua việc xức dầu crisma trong nghi thức khai tâm Kitô giáo, là dấu hiệu để ám chỉ sự thuộc về dân thánh của Đức Kitô. Nhờ dấu hiệu này, trong cuộc giáng lâm của Đức Kitô, các thiên thần có thể xác định những ai thuộc về dân tư tế của Con Chiên[27]. Ý tưởng tương tự cũng được diễn tả trong nghi thức thanh tẩy diễn ra tám ngày sau khi lãnh bí tích Rửa tội. Lời cầu nguyện của nghi thức này cầu xin cho những người tân tòng “biết gìn giữ nguyên vẹn ấn tín thiêng liêng cho đến ngày phán xét đáng sợ”[28].

5. Nghi thức hòa giải và tiếp nhận


Như đã nói ở mục 1, ngụy-khoản 7 của Công đồng Constantinople năm 381, hoặc đoạn trích của bức thư về việc tiếp nhận những người lạc giáo trở về được viết sau năm 428, đã được đưa vào khoản 95 của Công đồng Trullo 690/1. Và rồi, chuẩn mực của Trullo đã được kể là nền tảng quy điển cho nghi thức “tiếp nhận những người lạc giáo trở về với Giáo hội Công giáo, Tông truyền và Thánh thiện của Thiên Chúa”[29].

Nghi thức tiếp nhận những người có khả thể trở về hiệp thông với Giáo hội được chia thành ba loại, dựa trên sự hiểu biết đúng đắn giáo lý Thiên Chúa Ba Ngôi hoặc các tiêu chí cụ thể khác.

1/ Những người theo hạ phục thuyết như phái Ariô, phái Ariô bán phần; những người theo hướng nghiêm ngặt như phái Sabellian, phái Novatian, phái Quartodeciman và theo Apollinarist, được tiếp nhận sau 10-15 ngày ăn chay, tham gia giờ kinh Sáng, kinh Chiều và học hỏi Thánh vịnh. Sau khi tuyên bố từ bỏ những sai lầm của mình, các ứng viên được xức dầu myron giống như người mới được rửa tội, đọc cùng một mô thức, đó là “ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”, sau đó họ được rước lễ.

2/ Các thành viên của các Giáo hội tiền-Êphêsô và tiền-Chalcedonia được tiếp nhận sau khi đã gửi thư tuyên bố từ bỏ, và như vậy họ được trực tiếp rước lễ.

3/ Các thành viên của Giáo hội nào cử hành Bí tích Rửa tội một cách khiếm khuyết, chẳng hạn chỉ dìm một lần trong nước, hoặc những người phủ nhận Thiên Chúa Ba Ngôi, thì được rửa tội, bởi vì phép rửa trước đó không phải là bí tích, và do đó, nó vô hiệu.

Lời cầu nguyện dẫn vào việc xức dầu được ngỏ với Đức Kitô-Mục Tử (Ga 10,16) và khẩn cầu làm cho các ứng viên được xứng đáng nhận ấn tín myron, sự ngự đến của Chúa Thánh Thần và sự hiệp thông; nhờ đó được nên hoàn hảo và trở nên phần tử của đoàn chiên của Chúa. Lời cầu nguyện sau khi xức dầu diễn giải sự hoàn hảo được ban nhờ tuyên xưng đức tin chân thật và ấn tín myron, và xin ơn bảo vệ đức tin và lớn lên trong sự công chính.

Tuy nhiên, khi nghiên cứu so sánh những lời cầu nguyện trong bộ kinh nguyện Barberini[30], người ta thấy rằng “làm cho nên hoàn hảo” là một Formelgut, tức là một cách diễn tả về sự hoàn tất mà chúng ta cũng có thể tìm thấy trong những lời cầu nguyện về việc phong chức. Theo đó, không dễ để chúng ta có thể xác định chủ ý của mỗi lời cầu nguyện ngoài một ý tưởng chung chung về sự hoàn tất của điều được cử hành.

Việc xức dầu crisma cũng được quy định trong bản Quy Luật, để hòa giải những kẻ bội giáo mà tác giả của thủ bản viết tay được gán cho Thượng phụ Constantinople là Methodio (4/3/843 -14/6/ 847)[31]. Theo Paolo Eleuteri và Antonio Rigo, bản Quy Luật này được biên soạn trong bối cảnh trao đổi tù binh giữa người Ả Rập và người Byzantine vào ngày 16-20 tháng 9 năm 845. Do đó, bản Quy Luật cũng đề cập đến việc hòa giải những người trong thời gian bị giam giữ đã từ bỏ đức tin Kitô giáo để theo Hồi giáo[32]; họ vốn là các tín hữu đã được rửa tội và đã được xức dầu crisma.

Đến đây, một câu hỏi được nêu lên: Hiểu thế nào về việc các Giáo hội Đông phương cổ xưa xức dầu crisma lại cho những người bội giáo (lapsi), vốn đã được rửa tội và xức dầu crisma, trước khi chối bỏ đạo, rồi quay về với đức tin Kitô giáo? Theo Laurence Decousu, lý do thường được nêu lên để giải thích cho thực hành trên là: việc xức dầu crisma lại hàm ý khôi phục những “hiệu năng” của bí tích Rửa tội và xức dầu crisma. Đang khi đó, Giáo hội Tây phương hiểu hiệu năng của việc xức dầu crisma qua hành động impositio manuum (đặt tay) mang đến một ân ban đổi mới của Chúa Thánh Thần[33].

Nhưng Arranz nêu lên một ý kiến khác: dựa trên sự phát triển thần học về sự tuôn đổ Chúa Thánh Thần trên các tín hữu từ thế kỷ IX, thì việc xức dầu crisma lại được hiểu một biểu tượng về “sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội đối với các Kitô hữu đã từ bỏ Giáo hội” nay trở về[34]. Giải thích trên được biện minh bằng bài giảng về dụ ngôn Người con hoang đàng được cho là của Thượng phụ Photio (810-897), sống cùng thời với Thượng phụ Methodio, tác giả của bản Quy Luật. Qua bài giảng này, chúng ta có thể rút ra những suy tư của Giáo hội ở Constantinople vào thế kỷ IX, nhân dịp cử hành việc xức dầu crisma lại cho những người bội giáo, đó là Bí tích Rửa tội không cần được lặp lại bởi vì bản chất của bí tích này không liên quan đến việc tuôn đổ Chúa Thánh Thần và trong tiến trình hòa giải, nước rửa tội được thay thế bằng nước mắt của một tâm hồn thống hối ăn năn:
Vì vậy, chiếc áo đầu tiên không phải là bí tích Rửa tội, bởi vì không thể lãnh nhận bí tích Rửa tội lần thứ hai, nhưng chiếc áo đầu tiên chính là ân sủng mà các tín hữu được mặc lấy nhờ bí tích Rửa tội. Thật vậy, việc tái sinh được thực hiện trong hành động sám hối mà Thiên Chúa ban giống như việc tái sinh được thực hiện trong bí tích Rửa tội. Ơn tái sinh này cho thấy chúng ta lại được nên thanh sạch và không tì vết bằng cách rửa sạch những vết dơ bẩn của chúng ta bằng nước mắt của chính chúng ta. Sau khi mặc áo vào, người con hoang đàng còn được trao chiếc nhẫn, là biểu tượng của ấn tín thiêng liêng của Chúa Thánh Thần. Thật vậy, giống như việc tái sinh nhờ bí tích Rửa tội, qua việc tái sinh nhờ hành động sám hối, chúng ta cũng được ban cho chiếc áo và ấn tín ơn Chúa Thánh Thần[35].
Kể từ sau thánh Grêgôriô Cả († 604), Giáo hội Latinh dần dần loại bỏ cử chỉ impositio manuum (đặt tay) để tái trao ban Chúa Thánh Thần cho những người đến hoặc trở về hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội[36]. Trái lại, các Giáo hội Chính thống cho đến nay vẫn tái xức dầu crisma cho các tín hữu vốn đã được xức dầu trong Giáo hội trước đó của họ, chẳng hạn trong Giáo hội Công giáo, hoặc trong chính Giáo hội Chính thống khi họ rời bỏ Giáo hội, để tuyên xưng một đức tin khác, rồi quay trở về với Giáo hội ban đầu. Có thể nói, quy định trên của các Giáo hội chính thống phản ánh một thái độ cứng nhắc nào đó và thực sự đáng nghi ngờ so với những gì được thiết lập bởi khoản 95 của Công đồng Trullo, cho đến nay vẫn là quy chuẩn cho sự hiệp thông của Giáo hội Chính thống, quy định không tái xức dầu crisma cho các thành viên của Giáo hội tiền-Chalcedonia và tiền-Êphêsô.

Kết luận


Việc xức dầu crisma/myron cho các tân tòng ngay sau khi rửa tội là một thực hành khai tâm Kitô giáo xuất hiện trong truyền thống Byzantine từ giữa thế kỷ V đến giữa thế kỷ VI. Tuy nhiên, mô thức “Ấn tín ơn Chúa Thánh Thần” đi kèm với hành động xức dầu được lấy từ nghi thức hòa giải những người trở về hiệp thông với Giáo hội sau khi rời bỏ. Trong các Giáo hội Chính thống, việc xức dầu crisma lần II cho các tín hữu trở về hiệp thông với Giáo hội chính thống với mô thức như trên vẫn tồn tại cho đến nay. Theo Eucologio Barberini, ấn tín của Chúa Thánh Thần là dấu hiệu để nhận diện người Kitô hữu trong nhãn quan cánh chung luận.

Trước đây, ơn Chúa Thánh Thần được ban nhờ việc xức dầu dự tòng (unzione pre-battesimale), được cử hành trong nhãn quan Mêsia với mô thức được lấy từ Tv 44,8 [LXX]: “Bởi vì ngươi yêu chuộng đức công bình và ghét điều gian ác; vì thế, Thiên Chúa của ngươi, Người sẽ xức dầu hoan lạc cho ngươi”. Giống như mô thức Latinh thời trung cổ, người ta đặt câu hỏi: trong mô thức trên, chỗ nào nói tới Chúa Thánh Thần; và liệu mô thức trên có diễn tả rõ ràng ơn Chúa Thánh Thần được ban trong mầu nhiệm/bí tích hay không. Để trả lời hai câu hỏi trên, chúng ta nên nhớ rằng việc xức dầu dự tòng trong nhãn quan Mêsia gợi nhắc đến Is 61,1-3, hàm ý việc Chúa Thánh Thần ngự xuống và sứ vụ.

Nhìn trong nhãn quan phụng vụ, dựa trên những dữ kiện hiện có, chúng ta tự hỏi mô thức xức dầu myron của truyền thống Byzantine với viễn tượng cánh chung của nó có thể tương hợp với nhãn quan của truyền thống Tây phương tập trung vào Bí tích Thêm sức và Lễ Hiện Xuống đến mức nào. Trên thực tế, chúng ta không được quên rằng mặc dù việc xức dầu crisma của truyền thống Byzantine và bí tích Thêm sức của truyền thống Rôma đều là bí tích thứ hai của việc khai tâm, nhưng điều này không có nghĩa là, như chúng ta đã thấy, những nội dung của chúng thì giống nhau. Thật vậy, đạo lý về việc xức dầu crisma là một bí tích khác với Bí tích Rửa tội đã được đưa vào trong các Giáo hội Chính thống chỉ sau khi chấp nhận đạo lý về bảy bí tích vào năm 1274.[37]
________
[1] X. Cirillo di Gerusalemme, Catech., XVIII, 33; PG 33, 1056; Asterio, Vescovo di Amasea, In parabolam de filio prodigo, in “Photii Bibliotheca”, Cod. 271; PG 104, 213. Cf etiam Epistola cuiusdam Putriarchae Constantinopolitani ad Martyrium Episcopum Antiochenum; PG, 119, 900.
[2] M. Andrieu, Le Pontifical Romain au Moyen-Age, t. 1, Le Pontifical Romain du XIIe siècle: Studi e Testi, 86, Città del Vaticano 1938, tr. 247.[3] W.C. Reischl – J. Rupp, Cyrilli Hierosolymorum archiepiscopi opera quae supersunt omnia II, Sumptibus Librariae Lentnerianae, Munich 1848 (Hildesheim 1967), 336 = PG 33, 1056.
[4] Congregazione per le Chiese Orientali, Istruzione per l’applicazione delle prescrizioni liturgiche del Codice dei Canoni delle Chiese Orientali, Libreria Editrice Vaticana, Città del Vaticano 1996, 38-45.
[5] Εὐχολόγιον Βʹ, Sacro Monastero di Symonos Petras, Monte Athos 2018, 57.
[6] X. S. Parenti – E. Velkovska, ed., L’eucologio Barberini gr. 336. Seconda edizione riveduta con traduzione in lingua italiana, CLV – Edizioni Liturgiche, Roma 2000, 125-132.
[7] Rito dell’ammissione alla piena comunione della Chiesa cattolica di coloro che sono già stati validamente battezzati, in Rito dell’Iniziazione Cristiana degli adulti, Libreria Editrice Vaticana, Città del Vaticano 1989, 274-284. Sul rito si veda, per esempio, lo studio di P. TURNER, When Other Christians Become Catholic, Liturgical Press, Collegeville (MN) 200.
[8] P.-P. Joannou, Discipline générale antique (IVe -IXe s.), Les canons des Synodes Particuliers, I/2, Grottaferrata 1962, 13.
[9] Ibid, 150.
[10] M. Metzger, ed., Les Constitutions Apostoliques, III, livres VII et VIII, Éditions du Cerf, Paris 1987, 104 (VII. 44).
[11] V. Grumel, ed., Les regestes des actes du Patriarcat de Constantinople. Les regestes de 381 a 715, I, Institut Français d’Études Byzantines, Paris 1972, 107-108.
[12] Conciliorum Oecumenicorum Generaliumque Decreta. The Oecumenical Councils. From Nicaea I to Nicaea II (325-787), Editio critica, I: Brepols, Turnhout 2006, 69.
[13] J.-B. Pitra, ed., Iuris ecclesiastici Graecorum historia et monumenta, II, Roma 1848, 187-188 ripresa in F. DIEKAMP, Analecta Patristica, Pontificium Institutum Orientalium Studiorum, Roma 1938, 83.
[14] F. F. Nau, “Littérature canonique syriaque inédite: Concile d’Antioche; Lettre d’Italie; Canons “des Saints Pères”, de Philoxène, de Théodose, d’Ânthime, d’Athanase, etc.”, in Revue de l’Orient Chrétien 4 (1909), 113-130: 119-120.
[15] Grégoire de Nazianze, Discours 38-41, C. Moreschini, ed., P. Gallay, trad., Éditions du Cerf, Paris 1990, 272.
[16] F. J. Leroy, L’homilétique de Proclus de Constantinople. Tradition manuscrite, inédits, études connexes, Biblioteca Apostolica Vaticana, Città del Vaticano 1967, 193.
[17] Ibid, 228-230.
[18] S. J. Voicu, “Proclus de Constantinople”, in Histoire de la littérature grecque chrétienne des origines à 451. Du IV siècle au Concile de Chalcédonie (451) Constantinople, la Grèce et l’Asie mineure, IV, dir. M. CASSIN, Les Belles Lettres, Paris 2021, 105-117; cf. S. Janeras, “La predicació pasqual i baptismal de Procle de Constantinoble”, in Revista Catalana de Teologia 5 (1980), 131-151: 146-148.
[19] P. Allen – C. Datema, Leontii presbyteri Constantinopolitani homiliae, Brepols, Turnhout 1987, 265 rr. 212-221.
[20] Ibid, 275 rr. 66-72.
[21] Eucologio Barberini, 130 § 124. 4.
[22] Ibid, 129 § 123. 4.
[23] Interpretatio in XIV epistulas Pauli [CPG 6209], PG 82, 513 l. 23.
[24] S. Parenti, “Teodoreto di Cirro e l’anamnesis dell’anafora degli Apostoli”, in Rivista di Storia e Letteratura Religiosa 52/3 [Per Michele Pellegrino e Gilbert Dagron. In memoria] (2016), 551-568.
[25] S. Voicu, “Textes peu connus concernant l’onction prébaptismale”, in Irénikon 64 (1991), 468-482.
[26] M. Arranz, “Les Sacrements de l’ancien Euchologe constantinopolitain (8). IVème partie: L’ “Illumination” de la nuit de Pâques”, in Orientalia Christiana Periodica 53 (1987), 59-106: 93.
[27] S. Brock, “The Transition to a Post-Baptismal Anointing in the Antiochene Rite”, in The Sacrifice of Praise. Studies on the Themes of Thankgiving and Redemption in the Central Prayers of the Eucharistic and Baptismal Liturgies. In Honour of Artur Hubert Couratin, B.D. Spinks (ed.), CLV – Edizioni Liturgiche, Roma 1981, 215-225.
[28] Eucologio Barberini, 131-132, § 126.
[29] Barberini gr. 336 (post 787).
[30] Eucologio Barberini, 168, 170, 173, 174, §§ 159. 4, 161. 4, 164. 10, 165. 3.
[31] M. Arranz, “La ‘Diataxis’ du patriarche Méthode pour la réconciliation des apostats. Les sacrements de la restauration de l’ancien Euchologe constantinopolitain: II-1”, in Orientalia Christiana Periodica 56 (1990) 283-32.
[32] Eucologio Barberini, §§ 159. 4, 161. 4, 164. 10, 165. 3.
[33] L. Decousu, La perte de l’Esprit Saint et son recouvrement dans l’Église ancienne. La réconciliation des hérétiques et des pénitents en Occident du IIIe siècle jusqu’à Grégoire le Grand, Brill, Leiden – Boston 2015, 443-444.
[34] Arranz, “L’évolution des rites d’incorporation”, 75.
[35] Fozio, Biblioteca, introduzione di L. Canfora, N. Bianchi – C. Schiano, ed., nota sulla tradizione manoscritta di S. Micunco, Edizioni della Normale, Pisa 2016, 976.
[36] Grégoire Le Grand, Registrum epistularum Libri VIII-XIV. Appendix, D. Norberg, ed., Turnhout, 1982, (CCL140A), 952-953.
[37] A. De Halleux, “Confirmatio et Chrisma”, in Irénikon 57 (1984), 490-515.
Bài đăng cũ hơn
Bài đăng mới hơn Không tìm thấy kết quả nào
//