Bí tích thêm sứcNổi bật
@ José Antonio Velasco
Các sách giáo lý cổ điển thường trình bày công hiệu chính của bí tích Thêm sức là bảy ơn Đức Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên gần đây, người ta nhận thấy lối nói ấy không ổn, bởi vì Chúa Thánh Thần đã được ban khi lãnh bí tích Rửa tội rồi. Như vậy, bí tích Thêm sức có mang lại điều gì mới không? Mặt khác, có nhiều câu hỏi được đặt lên không kém phần hóc búa, liên quan đến nền tảng Kinh Thánh: Tân Ước nói đến bí tích Thêm sức ở chỗ nào? Phải chăng sự tách rời bí tích Thêm sức ra khỏi bí tích Rửa tội chẳng qua chỉ là do hoàn cảnh lịch sử chứ không dựa trên Lời Chúa? Điều gì làm nên bản chất của bí tích Thêm sức? Thần học kinh viện thường phân tích bản chất của bí tích qua việc sử dụng các phạm trù triết học là “chất thể” (materia) và “mô thể” (forma); thế nhưng không phải tất cả các nghi điển bên Đông và bên Tây đều thống nhất với nhau trong lãnh vực này. Thậm chí, sau công đồng Vaticanô II, ĐTC Phaolô VI đã thay đổi công thức khi xức dầu chrisma. Phải chăng Giáo hội có quyền thay đổi các yếu tố cốt yếu của bí tích?
Trên thực tế, bản chất của bí tích Thêm sức rất phong phú, và cần dùng nhiều lối tiếp cận để có một cái nhìn bao quát. Trước hết, chúng ta hãy điểm qua các văn kiện quan trọng của huấn quyền Giáo hội Công giáo kể từ công đồng Vaticanô II; từ đó chúng ta sẽ thấy những khía cạnh khác nhau của thần học bí tích Thêm sức.
Công đồng đề cập đến bí tích Thêm sức trong nhiều văn kiện[1], dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Hiến chế về phụng vụ (số 71) yêu cầu trình bày rõ ràng hơn mối tương quan giữa bí tích Thêm sức với các bí tích Khai tâm Kitô giáo. Hiến chế LG (số 11) kể ra những công hiệu của bí tích như sau: sự kết hợp chặt chẽ hơn với Hội thánh, một sức mạnh đặc biệt của Thánh Thần, cam kết trở nên chứng nhân cho Chúa Kitô.
Tông hiến duyệt lại nghi thức bí tích Thêm sức theo ước nguyện của công đồng Vaticanô II. Có những điểm sau đây đáng ghi nhận:
a) ĐTC đã xác định chất thể (xức dầu chrisma trên trán) và mô thể (Accipe signaculum doni Spiritus sancti)
b) Về công hiệu của bí tích, tông hiến nói rằng người tín hữu không chỉ lãnh nhận sức mạnh đặc biệt của Thánh Thần (LG 11), nhưng còn nhận lãnh chính Thánh Thần là hồng ân vô biên.
c) Khi lãnh bí tích Rửa tội, người tín hữu đã nhận lãnh Thánh Thần, nhờ đó họ trở nên đền thờ của Ngài, được tha thứ tội lỗi, được làm nghĩa tử của Thiên Chúa. Trong bí tích Thêm sức, Thánh Thần được ban với một ý nghĩa khác biệt. Có sự tăng trưởng giữa bí tích Rửa tội và bí tích Thêm sức, ví được như Thánh Thần đáp xuống Đức Giêsu lúc chịu phép rửa ở sông Giorđanô để bắt đầu sứ vụ công khai, với Thánh Thần được ban cho các môn đệ vào lễ Ngũ Tuần, cũng như những lần khác Thánh Thần đáp xuống khi các Tông đồ đặt tay trên các người được rửa tội.
Tuy lấy lại giáo huấn của Tông hiến trên đây, nhưng trong bài giảng mẫu, văn kiện đã thêm vài chi tiết liên quan đến công hiệu của bí tích như sau: “Các con thân mến, hồng ân Thánh Thần mà các con sắp nhận lãnh sẽ ghi một dấu ấn thiêng liêng và làm cho các con trở thành những phần tử hoàn hảo hơn của Hội thánh bằng cách làm cho các con trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô hơn, là Đấng cũng đã được Thánh Thần xức dầu lúc chịu phép rửa và được sai đi ngõ hầu toàn thế giới được cháy bừng bởi ngọn lửa Thánh Thần”. Như vậy văn kiện muốn nêu bật khía cạnh sứ vụ của việc xức dầu và trao ban Thánh Thần, và không bỏ qua sự tăng trưởng trong tương quan với Đức Kitô.
Sách Giáo lý thâu nhận những điểm đã nói trên đây, cách riêng liên quan đến tương quan giữa bí tích Thêm sức với tiến trình khai tâm (số 1285: đưa ân sủng rửa tội đến mức sung mãn), cũng như công hiệu của bí tích (số 1302: một sự tuôn đổ Thánh Thần cách đặc biệt giống như vào lễ Ngũ tuần), được tóm lại ở số 1303: tăng trưởng và đào sâu ân sủng rửa tội, nghĩa là đào sâu ơn làm con cái Chúa, kết hiệp mật thiết với Đức Kitô, tăng thêm các ân huệ Thánh Thần, và sức mạnh đặc biệt để bảo vệ đức tin. Ngoài ra sách Giáo lý cũng không bỏ qua vấn đề tuổi của ứng viên (số 1308), cũng như vấn đề tác viên, dung hòa giữa truyền thống Đông phương và Tây phương (số 1312-1314).
Như vậy, bí tích Thêm sức có thể nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, tạm gọi là những lối tiếp cận, được gom lại vào bốn mục: 1)Tiếp cận thần học bí tích: Bí tích Thêm sức với các bí tích Khai tâm. 2) Tiếp cận hiện sinh: Những công hiệu của bí tích Thêm sức. 3) Tiếp cận huấn giáo nhiệm tích: Ý nghĩa của các dấu chỉ bí tích. 4) Tiếp cận mục vụ: chuẩn bị các ứng viên nhận lãnh bí tích. Mỗi lối tiếp cận đều dựa trên nền tảng Kinh Thánh và truyền thống.
Trước đây, các sách giáo khoa thần học thường bắt đầu khảo luận về bí tích Thêm sức bằng cách trưng dẫn hai đoạn sách Công vụ Tông đồ (8,14-17[2] và 19,5-6[3]) để cho thấy rằng sau khi đã được rửa tội, các tín hữu cần được các thánh Tông đồ đặt tay để nhận lãnh Thánh Thần; như vậy ngoài bí tích Rửa tội, còn có một bí tích khác nữa để trao ban Thánh Thần. Tuy nhiên, phương pháp này đã bị chỉ trích ít là vì hai lý do: một đàng là thần học Kinh Thánh về việc trao ban Thánh Thần, đàng khác là lịch sử phụng vụ.
Xét về nền tảng Kinh Thánh, không thể tách rời bí tích Rửa tội ra một bên (mà công hiệu là ban ơn tha tội) và bí tích Thêm sức ra một bên (mà công hiệu là thông ban Thánh Thần). Thật vậy, bản chất của bí tích Rửa tội là “tái sinh trong nước và Thánh Thần” (Ga 3,3-5). Mặt khác, Tân Ước có nhiều đoạn nói đến việc thông ban Thánh Thần trước khi rửa tội (Cv 10,47-48), và thậm chí đôi khi việc trao ban Thánh Thần không gắn liền với một nghi thức nào hết (Cv 2,7-41; 4,8-31; 10,14-17; 15,2-4; 20,23).
Xét về lịch sử, vào những thế kỷ đầu tiên, việc rửa tội và trao ban Thánh Thần diễn ra trong cùng một buổi cử hành, không có sự tách biệt giữa nghi thức rửa tội và xức dầu thánh. Từ thế kỷ III, do sự tăng gia số những người trở lại đạo và số người rửa tội, cũng như những trường hợp các thơ nhi sắp chết, Giáo hội buộc phải lựa chọn một trong hai biện pháp: một là Giám mục ủy quyền cho các linh mục được cử hành nghi thức khai tâm (bao gồm việc rửa tội và việc xức dầu tiếp theo), với nguy cơ là làm mất tính hợp nhất hữu hình của cộng đồng Hội thánh (được tượng trưng nơi Giám mục); hai là các linh mục chỉ rửa tội, còn việc xức dầu (hay đặt tay) được dành cho Giám mục, với nguy cơ là làm mất tính hợp nhất của tiến trình khai tâm. Các giáo hội Đông phương (và Tây ban nha) chọn giải pháp thứ nhất. Rôma chọn giải pháp thứ hai, mặc dù đây đó các linh mục vẫn xức dầu thánh lúc rửa tội. Mãi đến thời Trung cổ, kỷ luật bên Tây phương mới đồng nhất, và từ đó bắt đầu phát triển thần học về bí tích Thêm sức tách rời khỏi bí tích Rửa tội.
Ngày nay, nhờ những cuộc nghiên cứu lịch sử cũng như đối chiếu với quan niệm thần học của Giáo hội Đông phương, người ta thấy sự cần thiết phải lồng bí tích Thêm sức trong toàn thể tiến trình khai tâm Kitô giáo, vạch ra sự liên tục và tiến triển giữa bí tích Rửa tội và Thêm sức, thay vì coi như hai thực thể biệt lập. Việc khai tâm Kitô giáo là một tiến trình năng động, có sự tăng trưởng từ lúc khởi đầu cho đến lúc trưởng thành. Văn kiện “Các nghi thức khai tâm Kitô giáo” (bộ Phụng tự ban hành ngày 6/01/1972) mở đầu với những lời như sau:
Nhờ các bí tích khai tâm Kitô giáo, con người, được kết hợp với Đức Kitô trong cái chết, mai táng và phục sinh của Người, được giải thoát khỏi quyền lực tối tăm, lãnh nhận Thánh Thần nghĩa tử và cử hành, cùng với toàn thể dân Thiên Chúa, việc tưởng niệm cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô (AG 11). – Nhờ bí tích Rửa Tội, họ nhận được ơn tha thứ tội lỗi, được giải thoát khỏi quyền lực tối tăm và được chuyển vào tình trạng làm dưỡng tử; được tái sinh nhờ nước và Thánh Thần, họ trở thành thụ tạo mới (xc Cl 1,13; Rm 8,15; Gl 4 5): vì thế họ được gọi và họ thực sự là con cái Thiên Chúa (Xc. 1 Ga 3,1). Như vậy, được tháp nhập vào Đức Kitô, họ được thiết lập thành dân Thiên Chúa. - Trong bí tích Thêm Sức, họ được ghi dấu Thánh Thần là hồng ân của Chúa Cha, các người được rửa tội được nên đồng hình đồng dạng sâu xa hơn với Đức Kitô và được dồi dào Thánh Thần hơn, để có khả năng mang vào thế giới chứng tá của Thánh Thần cho đến mức trưởng thành sung mãn của thân thể Đức Kitô (AG 36). – Sau cùng, nhờ tham dự cộng đoàn Thánh Thể, các tín hữu ăn thịt và uống máu của Con Người (Xc. Ga 6,55), để nhận lãnh sự sống đời đời và biểu lộ sự hợp nhất của dân Thiên Chúa. Khi dâng hiến bản thân cùng với Đức Kitô, họ được hòa nhập vào hy tế phổ quát, là toàn thể nhân loại được cứu chuộc và dâng hiến cho Thiên Chúa nhờ Đức Kitô là vị thượng tế (LG 11; PO 2); và khẩn nài Chúa Cha tuôn đổ dạt dào Thánh Thần, ngõ hầu toàn thể nhân loại họp thành một gia đình duy nhất của Thiên Chúa (LG 28). Ba bí tích khai tâm kết hợp chặt chẽ với nhau, đưa các tín hữu đến sự trưởng thành Kitô hữu, nhờ đó họ có thể chu toàn, trong Giáo hội và thế giới, sứ mạng đặc biệt của dân Thiên Chúa (LG 31).
Theo đường hướng này, chúng ta có thể nói rằng giữa bí tích Rửa tội và bí tích Thêm sức có sự liên tục và tiến triển, cũng tương tự như khi so sánh với ba thực tại: đời sống tự nhiên; mầu nhiệm Đức Kitô; mầu nhiệm Hội thánh.
Đời sống tự nhiên có ba giai đoạn: khởi đầu, phát triển và tăng trưởng. Ta cũng có thể nói một cách tương tự về đời sống siêu nhiên (tức là sự thông hiệp vào bản tính Thiên Chúa). Sự khởi đầu tương ứng với việc tái sinh nhờ bí tích Rửa tội; phát triển và củng cố nhờ bí tích Thêm sức; tăng trưởng nhờ được nuôi dưỡng bằng lương thực Thánh Thể. Nhờ công hiệu của ba tích Khai tâm, các tín hữu càng ngày càng được nếm hưởng những kho tàng của đời sống thần linh và đạt đến sự trọn hảo của đức mến. Việc so sánh này đã được các giáo phụ đề cập, chẳng hạn như ông Tertullianô :
Thân xác được rửa, ngõ hầu linh hồn được giải thoát khỏi mọi vết nhơ; thân xác được xức dầu, ngõ hầu linh hồn được thêm sức; thân xác được che phủ bằng việc đặt tay, ngõ hầu linh hồn được Thánh Thần chiếu sáng; thân xác được dưỡng nuôi bằng Mình và Máu Chúa Kitô, ngõ hầu linh hồn cũng được nuôi dưỡng dồi dào bằng Thiên Chúa”[4]. Bên Đông phương, Nicola Cabasilas, một tác giả thế kỷ XIV, cũng áp dụng sự so sánh giữa đời sống tự nhiên với đời sống siêu nhiên vào ba bí tích Khai tâm: “Nhờ các bí tích Khai tâm loan báo cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô, chúng ta được tái sinh vào đời sống siêu nhiên được tăng trưởng và được kết hợp cách tuyệt vời với Đấng Cứu chuộc chúng ta: bí tích Rửa Tội cho chúng ta được hiện hữu và tồn tại trong Đức Kitô; bí tích Thêm Sức kiện toàn người tân tòng qua việc cung cấp những năng lực tương ứng với đời sống ấy; bí tích Thánh Thể kéo dài sự sống ấy, giúp cho nó sinh hoa kết quả, bảo tồn và duy trì năng lực đã lãnh nhận. Nói tóm lại, chúng ta sống nhờ bánh này, chúng ta được tăng sức nhờ việc xức dầu này, sau khi chúng ta nhận được sự hiện hữu trong việc dìm mình trong nước[5].
Tân Ước cho thấy Thánh Thần hiện diện trong suốt cuộc đời của Đức Kitô, từ lúc được thụ thai cho đến khi được tôn vinh phục sinh.
a) Đức Kitô được thụ thai do quyền năng của Thánh Thần. Cũng như Thần Khí Thiên Chúa đã tác động vào lúc tạo dựng vũ trụ (St 1,2) và vào lúc tạo dựng con người theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa (St 1,27), thì vào thời viên mãn, chính nhờ quyền năng Thánh Thần mà Vị Trưởng tử của cuộc tái tạo được thụ thai và sinh ra trong cung lòng Trinh nữ Maria (Lc 1,35; Mt 1,20).
b) Đức Giêsu, trong Thánh Thần, đã được tấn phong làm Vua-Mêsia. Tại sông Giorđanô, Thánh Thần đáp xuống trên Đức Giêsu (xc Mc 1,10; Mt 3,16), ở lại với Người (Ga 1,32.33; xc. Is 11,2: thần khí xuống trên Đấng Mêsia; 42,1: Thần Khí Chúa xuống trên người tôi trung). Cũng như Thánh Thần đã ở với Đức Giêsu ngay từ đầu cuộc đời, giờ đây Thánh Thần hiện diện vào lúc bắt đầu sứ vụ công khai của Người để làm chứng công khai rằng Người thật là “Con yêu dấu” của Chúa Cha (Lc 3,22), như người Tôi trung cần phải chu toàn công tác của Chúa Cha (xc. Mt 3,15-17). Kể từ nay, Thánh Thần của Cha sẽ đồng hành với Đức Giêsu trong mọi hoạt động: “Người được Thánh Thần dẫn vào hoang địa” (Lc 4,1); “trở về Galilê với quyền năng của Thánh Thần” (4,14); tại hội đường Nazaret, Người cho biết sấm ngôn của Isaia ám chỉ về mình: “Thần Khí Thiên Chúa ngự trên tôi” (Lc 4,18; xc. Is 61,1-2); trong Thánh Thần, Người đương đầu với ma quỷ (Mt 4,1) và giải thoát các nạn nhân của y (Mt 12,28); trong Thánh Thần, Người làm phép rửa cho tất cả những ai muốn vào vương quốc mới được Người khai nguyên (Ga 1,33; 3,5); trong Thánh Thần, Người đập tan sự dữ và sự chết (Mt 12,28); trong Thánh Thần, Người chọn lựa và huấn luyện các môn đồ (Cv 1,2); trong Thánh Thần, Người hớn hở vui mừng vì hoàn toàn thân thiết với Chúa Cha (Lc 10,21; Mt 11,25-26).
c) Đức Giêsu, trong Thánh Thần, hoàn tất công trình Vượt qua. Khi đã đến “giờ”, khi “mọi sự đã hoàn tất”, “nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Người đã hiến dâng bản thân mình cho Thiên Chúa như của lễ không tì ố” (Hr 9,4) để thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những công việc của sự chết và cho phép chúng ta được phụng sự Thiên Chúa hằng sống. Thần Khí mà Người đã nhận lãnh lúc nhập thể và đã đồng hành với Người trong suốt sứ vụ của mình, giờ đây có thể được trao trả lại cho Chúa Cha (xc. Ga 19,30: “Người trao Thần Khí”) ngõ hầu trút đổ xuống Giáo hội vào lễ Ngũ tuần (Cv 2), là một điều đã được tiên báo qua việc nước vọt ra từ cạnh sườn Đấng Chịu Đóng đinh (Ga 19,34, cần đối chiếu với Ga 7,37-39 và 1 Ga 5,6-8: lời hứa ban Thánh Thần qua dấu chỉ của nước). Sau cùng, trong Thánh Thần, Chúa Giêsu trỗi dậy từ cõi chết với quyền năng (Rm 1,4) và được đặt làm Thần Khí ban sự sống (1 Cr 15,45).
Những đoạn trích dẫn dài dòng này chỉ có một mục tiêu duy nhất, đó là muốn cho thấy rằng trong cuộc đời của Đức Kitô, Thần Khí của Chúa Cha luôn hiện diện. Sự trao ban Thánh Thần mang tính liên tục: đây không phải là câu chuyện về lượng, ra như Chúa Cha ban Thánh Thần từng đợt một (từ chút ít đến nhiều hơn) nhưng là về phẩm: Chúa Cha luôn ban dồi dào Thánh Thần cho Đức Kitô nhưng nhằm đến những hoạt động khác nhau: để được thụ thai, để tấn phong vào lúc khởi đầu sứ vụ, để hoàn thành cuộc vượt qua vào giờ hy tế cứu chuộc.
Cũng tương tự như đối với cuộc đời Đức Kitô, ta thấy Thánh Thần được trao ban nhiều lần trong đời sống Hội thánh, với những giai đoạn sinh ra, lớn lên, tăng trưởng.
a) Hội thánh được sinh ra nhờ Thánh Thần. Điều này được thánh Gioan nêu bật khi đặt sự sinh ra của Hội thánh, như là bà Eva mới, từ cạnh sườn của Đức Kitô thiếp ngủ trên thập giá: “Từ cạnh sườn của Đức Kitô thiếp ngủ trên thập giá mà mầu nhiệm Hội thánh đã nảy sinh” (Hiến chế Sacrosanctum Concilium số 5). “Chàng, ông Ađam thứ hai, đã gục đầu thiếp ngủ trên thập giá, ngõ hầu từ cạnh sườn của người, một hôn thê được hình thành” (T. Augustinô). Nơi nước và máu trào ra từ cạnh sườn của Đấng chịu đóng định (xc. Ga 19,34), các giáo phụ đã nhận ra các bí tích vượt qua là Thánh Tẩy và Thánh Thể, những bí tích sản sinh Hội thánh.
b) Trong Thánh Thần của lễ Ngũ tuần, Hội thánh bắt đầu hoạt động truyền giáo. Khác với Gioan, Tin Mừng Nhất Lãm gắn việc trao ban Thánh Thần vào lễ Ngũ tuần với việc khởi đầu sứ vụ truyền giáo của Hội thánh cho đến tận cùng trái đất (Cv 1,8; 2,33). Chúa Cha đổ tràn Thần Khí của Chúa Con vào tâm hồn các môn đệ (Gl 4,6), đầy tràn đến nỗi họ được bùng cháy bởi Thần Khí và loan báo các kỳ công của Thiên Chúa. Trong Thánh Thần, các môn đệ được cử đi thì hành sứ vụ: ông Philipphê (Cv 8,26.29), ông Phêrô (Cv 10,20), ông Phaolô và Barnaba (Cv 13,2.4); Thánh Thần đồng hành và hướng dẫn họ trong hoạt động truyền giáo (Cv 16,6), chuẩn nhận các quyết định của họ (Cv 15,28).
c) Trong Thánh Thần, Hội thánh được kiến tạo chung quanh Lời và Thánh Thể. Thánh Thần cho phép Lời được tăng trưởng và bành trướng (Cv 6,7; 12,24) trong niềm hân hoan và tín thác (Cv 13,52). Thật vậy, Thánh Thần làm cho các Tông đồ lặp lại các hành động của Đức Giêsu, ban cho họ lòng khẳng khái để loan báo Lời của Đức Giêsu (Cv 4,30.31; 5,42; 6,7; 9,20; 18,5; 19,10.20). Cũng chính Thần Khí của Đấng Phục sinh duy trì sự đoàn kết giữa các môn đệ (Cv 2,42; 4,32), xây dựng sự hợp nhất của thân thể Đức Kitô (1 Cr 12,13), là nguyên ủy của sự thông hiệp (Ep 4,3, Pl 2,1) nhờ hồng ân của đức mến (1 Cr 13; 2 Cr 6,6; Gl 5,22; Rm 5,5).
Tóm lại, khi so sánh với đời sống tự nhiên, chúng ta thấy rằng đời sống siêu nhiên cũng trải qua các chặng liên tục của sự sinh ra, phát triển và tăng trưởng; tiến trình này cũng diễn ra trong mầu nhiệm Đức Kitô và mầu nhiệm Hội thánh, khi cùng một Thánh Thần tác động trong sự sinh ra, tăng trưởng và hoàn tất công trình cứu độ. Thánh Thần được thông ban nhiều lần, không phải tại vì những lần trước đây còn thiếu sót bất toàn, nhưng vì muốn nêu bật sự hiện diện liên lỉ của Chúa Cha giữa các môn đệ qua việc trao ban Thánh Thần tình yêu cho họ. Đây không phải là vấn đề số lượng (ít hay nhiều) nhưng là phẩm chất: mỗi lần can thiệp đều có một chức năng riêng biệt, mặc dầu luôn gắn liền với nguồn mạch là Thánh Thể[6].
Sau khi đã đặt bí tích Thêm sức trong khung cảnh của ba bí tích Khai tâm, nhằm nói lên sự liên tục và tiến triển, bây giờ chúng ta có thể tìm hiểu các đặc trưng của bí tích Thêm sức qua việc phân tích các “công hiệu” của nó, cách riêng là trong đời sống của người tín hữu.
Theo sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, khi các tín hữu lãnh nhận bí tích cách xứng đáng, họ nhận được ơn thánh sủng, nghĩa là sự kết hiệp đời sống với Đức Kitô và chia sẻ vào bản tính thần linh của Người (xc. 1 Pr 1,4); ngoài ra họ còn nhận được “ân sủng bí tích” (gratia sacramentalis), nghĩa là ân sủng riêng của mỗi bí tích, nhằm đạt đến mục đích riêng của bí tích ấy[7]. Đó cũng là điều mà thần học gọi là “hiệu quả” (hay công hiệu, hoa trái) của bí tích, bao gồm vừa chiều kích cá nhân vừa chiều kích Hội thánh[8]. Dựa theo giáo huấn của Giáo hội[9], chúng ta có thể tóm lại công hiệu của bí tích Thêm sức vào ba điểm chính sau đây: 1/ Được tăng cường một sức mạnh đặc biệt. 2/ Gắn bó với Hội thánh cách hoàn hảo hơn. 3/ Ngoài ra, bí tích còn in vào linh hồn một “ấn tích”[10]. Chúng ta hãy xét từng điểm.
Sức mạnh đặc biệt ở đây là chính Chúa Thánh Thần được ban như ân huệ. Khi nói đến việc trút đổ (trao ban) Thánh Thần, Kinh Thánh sử dụng các hình ảnh như là gió, gợi lên ý tưởng sức mạnh (Cv 2,2), sinh lực (Ga 6,63). Thánh Thần (hoặc Thần Khí, trong tiếng Hipri là ruah, tiếng Hy lạp pneuma) là một năng lực thần linh nâng con người lên trên sự mỏng dòn của mình và đưa vào thế giới của Thiên Chúa. Thần Khí Chúa là sức mạnh điều khiển lịch sử và là ánh sáng giải thích lịch sử nhờ các ngôn sứ. Khi can thiệp vào con người, Thần Khí hành động với sức mạnh siêu quần để hoàn tất các công trình của Thiên Chúa. Vì thế, người ta nói Thần Khí nhập vào, ập xuống một người (xc. Tl 14,6.19; 1 Sm 10,6; Ed 11,5). Với những lần can thiệp như vậy, Thần Khí gợi lên và thôi thúc những người được ủy thác việc điều khiển lịch sử thánh, và vì thế họ được Kinh Thánh gọi là những tôi tớ của Thiên Chúa (Am 3,7; Gr 7,25; Ed 38,17).
Khi nói đến Thánh Thần được ban trong bí tích Thêm sức như là “sức mạnh đặc biệt”, làm phong phú thêm bí tích Thánh Tẩy, chúng ta nên chú ý đến hạn từ “đặc biệt”, bởi vì Thánh Thần đã được ban trong bí tích Thánh Tẩy, nhờ đó chúng ta trở thành con cái Thiên Chúa, và ngài đã dạy chúng ta thốt lên “Áp-ba, Cha ơi!”. Chúng ta có thể tìm thấy một sự so sánh điều này nơi một vài nhân vật của Kinh Thánh. Kinh Thánh nói rằng “Thiên Chúa đã gọi họ từ khi còn trong lòng mẹ”. Thế rồi, đến một lúc nào đó trong cuộc đời, họ nhận được một sự chọn lựa đặc biệt nữa, mà ta tạm gọi là “ơn gọi ngôn sứ”, giúp cho họ can đảm thực hành điều đã hiện hữu trong mình khi được Thiên Chúa gọi từ trong lòng mẹ. Ta có thể nhận thấy điều này nơi tiếng gọi ngôn sứ Giêrêmia (1,5.9-10), tiếng gọi người tôi tớ Giavê (Is 49,1-5; 61,1), ông Gioan Tẩy giả (Lc 1,15.80), ông Phaolô (Gl 1,15). Qua tiếng gọi ngôn sứ này, Thiên Chúa can thiệp đặc biệt vào cuộc đời của một con người, kêu mời họ phục vụ kế hoạch cứu độ. Đối với chính các ngôn sứ, tiếng gọi này được coi như một danh nghĩa chính đáng để thi hành sứ vụ của mình. Thật vậy, các ngôn sứ giả hiệu là những người mà Thiên Chúa đã không kêu gọi cũng chẳng sai đi (xc. Gr 14,14t; 23,27.32; vv) và do đó Ngài đã không trao ban thần khí ngôn sứ.
Khi đem so sánh dữ kiện ấy vào bí tích Thêm sức, ta có thể hiểu được thế nào là “được tăng cường bằng một sức mạnh đặc biệt”: đó là một việc trao ban mới của cùng một Thánh Thần, Đấng đã được ban cho con người ngay từ trong lòng mẹ để trở thành con cái Thiên Chúa, nghĩa là để trở thành con cái Thiên Chúa, đến một lúc nào đó trong cuộc đời, cũng Thánh Thần ấy được trao ban để chúng ta hành động xứng hợp với ơn gọi là con cái Thiên Chúa. Đó là tiếng gọi ngôn sứ nhằm củng cố kẻ đã được rửa tội, và chứng thực với cộng đoàn ngõ hầu đương sự có thể ứng xử xứng hợp với ơn gọi làm con Thiên Chúa đã hiện hữu từ khi lãnh bí tích Thánh Tẩy. Như đã nói trên đây, chúng ta đừng hiểu theo nghĩa là tăng cường ân huệ theo “lượng” (ra như bí tích Thêm sức bù đắp thêm những gì còn thiếu sót trong bí tích Rửa tội), nhưng là theo “phẩm”, nghĩa là nhắm tới một sứ mạng đặc thù để linh hoạt những đặc sủng mà Thánh Thần đã ban (xc. 1 Cr 12-13).
Do đó, trong bí tích Thánh Tẩy, Thánh Thần ban cho ta được “hiện hữu trong Đức Kitô” và gắn kết chúng ta vào Thân thể của Người là Giáo hội; trong bí tích Thêm sức, Thánh Thần kiện toàn tiếng gọi ngôn sứ, nhằm thúc đẩy chúng ta hãy “hoạt động với Đức Kitô” để cứu độ thế giới. Sau cùng, trong bí tích Thánh Thể, con đường khai tâm trong Đức Kitô đạt đến cao điểm: một lần nữa, chúng ta lãnh nhận sự sung mãn của Thánh Thần; khi thông hiệp vào Mình Thánh Đức Kitô, chúng ta trở thành một thân thể và một tinh thần duy nhất, nghĩa là một cộng đoàn Giáo hội do quyền năng của Thánh Thần. Thánh Thần chủ trì và điều khiển sự sinh ra, phát triển và tăng trưởng của mọi cuộc sống: Ngài đã thực hiện điều đó nơi Đức Kitô, nơi Hội thánh, và vì thế nơi mỗi một người chúng ta.
Khi lãnh bí tích Rửa tội, chúng ta được tháp nhập vào Đức Kitô, đồng thời cũng được kết nạp vào thân thể của Người là Hội thánh. Trong bí tích Thêm sức, sự gắn bó với Hội thánh trở nên hoàn hảo hơn cho đến khi đạt đến sự sung mãn và tham dự vào bàn tiệc Thánh Thể. Ở đây cũng vậy, chúng ta cần làm rõ ý nghĩa của từ “hoàn hảo hơn”.
Trước đây, khi đề cập đến nền tảng Kinh Thánh của bí tích Thêm sức, các sách giáo khoa thần học thường trưng dẫn đoạn văn Tông đồ Công vụ 8,14-17 để chứng minh rằng Thánh Thần được ban do việc hai Tông đồ đặt tay lên những người đã được rửa tội. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta có thể đọc lại bản văn dưới một viễn tượng khác. Việc hai thánh tông đồ Phêrô và Gioan đặt tay muốn nói rằng hồng ân lễ Ngũ tuần được mở rộng đến cộng đoàn Samaria, và như thế là hủy bỏ sự phân tán của tháp Babel cũng như tất cả mọi rào cản, ngõ hầu tạo nên một đoàn dân duy nhất của Giao ước mới. Đoạn văn này cũng muốn nói lên sự hiệp thông của cộng đoàn Samaria với cộng đoàn mẹ ở Giêrusalem: Thánh Thần là nguyên ủy của sự thông hiệp Tam Vị cũng trở thành nguyên ủy của sự hiệp thông Hội thánh.
Truyền thống bên Tây phương (và kể cả một vài nơi bên Đông phương nữa) dành cho giám mục quyền ban bí tích Thêm sức. Điều này muốn nói rằng: vị giám mục tượng trưng cho sự hiện diện hữu hình của Chúa Kitô mục tử và trung tâm hữu hình của sự hợp nhất của Giáo hội, được ủy thác nhiệm vụ thực hiện tiếng gọi ngôn sứ kêu mời kẻ đã rửa tội hãy đảm nhận vai trò làm chứng tá để xây dựng cộng đoàn Hội thánh. Ta có thể coi sự nhìn nhận này như là một ân huệ đặc biệt của Thánh Thần: ngoài việc xác nhận đức tin lúc chịu phép rửa tội, ân huệ này liên kết người tín hữu chặt chẽ hơn vào sứ mạng của Hội thánh.
Tất cả những điều này được tóm gọn trong lời nhắn nhủ mở đầu cử hành bí tích Thêm sức khi Đức Giám mục nói:
Cũng giống như bí tích Rửa tội, bí tích Thêm sức chỉ được ban một lần mà thôi. Quả vậy, bí tích Thêm sức in vào linh hồn một dấu ấn thiêng liêng và không thể xóa nhòa, gọi là “ấn tích”, là dấu chỉ mà Chúa Kitô đã đánh dấu một người tín hữu bằng dấu ấn của Thánh Thần, ban cho họ sức mạnh từ trời cao ngõ hầu họ trở thành chứng nhân trung tín của Người (xc. Lc 28,48-49).
Như là ấn tín thiêng liêng, Thánh Thần hoàn tất nơi các tín hữu việc trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô và kết hợp với Người thành những chi thể sống động của thân thể mầu nhiệm là Hội thánh. Đó là dấu hiệu bảo chứng của Thiên Chúa[12], ban cấp khả năng phụng tự và phục vụ Hội thánh.
Thật vậy, ấn tích này kiện toàn chức vụ tư tế phổ quát của các tín hữu đã được nhận lãnh trong bí tích Rửa tội. Theo thánh Tôma Aquinô, người được Thêm sức nhận được quyền năng để tuyên xưng Đức Kitô cách công khai, dường như là do một chức vụ chính thức vậy (quasi ex officio)[13]. Được xức dầu trên trán với ấn tín của Thánh Thần, họ có thể dâng hiến bản thân cùng với Đức Kitô Thượng Tế và khẩn nài Chúa tuôn đổ dạt dào Thánh Thần ngõ hầu tất cả nhân loại họp nên một gia đình duy nhất của Thiên Chúa. Ấn tích cũng là dấu chỉ không thể xóa nhòa nói lên sự tham dự của người tín hữu vào đời sống Hội thánh theo đặc sủng của mình. Thật vậy, Thánh Thần thánh hóa dân Thiên Chúa và trang điểm bằng các nhân đức, bằng việc phân phát các ân huệ cho mỗi người theo như Ngài muốn (1 Cr 12,11) và phân phát các đặc sủng cho các tín hữu, khiến cho họ có khả năng đảm nhận các công tác và chức vụ hữu ích cho việc canh tân và mở rộng Hội thánh, nhằm đến ích chung (1 Cr 12,7; xc. LG 12). Như vậy Thánh Thần làm cho Hội thánh được tăng trưởng, dạy dỗ và điều khiển Hội thánh với những ân huệ khác nhau, tô điểm Hội thánh nhờ các hoa trái của Ngài (xc. Ep 4,11-12; 1Cr 12,4; Gl 5,22; LG 4) trong sự hợp nhất và tình yêu, theo ý muốn của Chúa Cha.
Ấn tích của bí tích mang lại sự đa dạng của các đặc sủng và chức vụ tùy theo ơn gọi đặc trưng của mỗi người. Đến lượt các mục tử có nhiệm vụ thẩm định tính cách xác thực của các đặc sủng ấy, không phải để dập tắt nhưng là để chứng nghiệm thần khí, duy trì điều gì là tốt đẹp (1 Tx 5,12; 19-21). Vào buổi sáng lễ Ngũ tuần, đoàn dân mới, đã được sinh ra từ cái chết và sống lại của Đức Kitô, khi mà từ cạnh sườn chịu đâm thâu của Người nảy sinh mầu nhiệm của Hội thánh Hiền thê, giờ đây được cấp ban quyền năng Thánh Thần ngõ hầu loan báo cho đến cùng cõi địa cầu ơn cứu độ đã được khai trương và hướng đến cánh chung. Trong Hội thánh, mầu nhiệm Ngũ tuần được lặp lại mỗi khi những người đã được thánh hiến cho Thiên Chúa trong bí tích Rửa tội nhận lãnh quyền năng của Thánh Thần trong bí tích Thêm sức, nhắm đến việc thi hành các ân ban trong bí tích Rửa tội, tựa như: ơn ngôn sứ tức là loan báo Tin Mừng, chức tư tế tức là thi hành việc phụng tự trong cộng đoàn các tín hữu, chức vương đế tức là việc phục vụ anh chị em.[14]
Trong hai mục vừa rồi, chúng ta đã tìm hiểu bản chất của bí tích Thêm sức trong tương quan với các bí tích Khai tâm Kitô giáo cũng như công hiệu của bí tích trong đời sống người tín hữu. Bây giờ, chúng ta xét đến ý nghĩa của bí tích được diễn tả qua các yếu tố cấu thành. Điều này được bàn trong thần học kinh viện dưới tiêu đề “chất thể” (materia) và “mô thể” (forma) của bí tích. Ngày nay, thần học phụng vụ diễn tả qua các thuật ngữ “lễ nghi và lời nguyện” (per ritus et preces). Đây là một thứ huấn giáo dẫn vào nhiệm tích (mystagogia) quen được các giáo phụ thực hành nhằm giúp cho các tín hữu tham dự phụng vụ một cách có ý thức.
Đâu là những yếu tố cốt yếu của bí tích Thêm sức?
Trong những thế kỷ đầu tiên, bí tích Thêm sức được cử hành trong phụng vụ khai tâm, nghĩa là kết hợp với bí tích Thánh Tẩy và Thánh Thể; hay nói theo thánh Cyprianô, Thêm sức và Thánh Tẩy là một bí tích kép. Sau đó, bên Tây phương, do nhiều lý do khác nhau (sụt giảm chế độ người lớn dự tòng, tăng thêm việc rửa tội các ấu nhi, tăng gia các giáo xứ ở thôn quê, việc cử hành bí tích Rửa tội quanh năm chứ không chỉ giới hạn một lần trong đêm Vọng Phục sinh), nhằm giúp cho các giám mục có thể cử hành bí tích Thêm sức, cho nên bí tích được tách rời khỏi bí tích Thánh Tẩy. Bên Đông phương, người ta vẫn duy trì sự thống nhất giữa ba bí tích khai tâm kể cả trong trường hợp các ấu nhi: linh mục nào ban phép Rửa tội thì cũng ban phép Thêm sức (tuy với dầu myron do giám mục thánh hiến), và Thánh Thể. Bên Tây phương, sự thống nhất chỉ diễn ra trong trường hợp dự tòng là người lớn). Hai truyền thống này mang giá trị riêng của mình: Đông phương nhấn mạnh đến sự thống nhất giữa ba bí tích Khai tâm; Tây phương đề cao sự hiệp thông giữa mỗi người được rửa tội với Giám mục của mình, như là người bảo chứng và phục vụ tính duy nhất, công giáo và tông truyền của Giáo hội giáo phận, tức là mối dây nối kết với nguồn gốc Tông đồ của Hội thánh Chúa Kitô.
Theo ĐTC Phaolô VI, những yếu tố cốt yếu của bí tích Thêm sức là: việc xức dầu chrisma được thực hiện cùng với việc đặt tay, kèm theo những lời “Hãy lãnh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần.” [15] Như vậy phải chăng có ba yếu tố cốt yếu? Theo quan niệm thông thường về các bí tích, chỉ có hai yếu tố cốt yếu thôi, nói theo ngôn ngữ thần học kinh viện là “chất thể” và “mô thể” (materia – forma), hoặc nói theo ngôn ngữ huấn giáo là “cử chỉ” và “lời nói” (gestis verbisque). Chúng ta cũng có thể áp dụng cách phân tích ấy vào bí tích Thêm sức. Có điều là khi đề cập đến “chất thể” thì có hai quan niệm khác nhau: một bên nhấn mạnh đến việc đặt tay, một bên nhấn mạnh đến việc xức dầu; may thay cũng có ý kiến muốn dung hòa cả đôi bên.
Trong những thế kỷ đầu tiên, xem ra “cử chỉ” ban Chúa Thánh Thần là việc đặt tay, là một điều được thực hành với nhiều bí tích (chẳng hạn Thánh Thể, Truyền Chức Thánh), nhưng không dễ gì áp dụng cho bí tích Thêm sức. Lý do là vào thời đó, các nghi thức chưa được xác định rõ ràng. Từ thế kỷ thứ IV, bên Đông phương, cả ba bí tích được ban cùng một lúc; vì thế không có nghi thức đặt tay, mà chỉ có hai lần xức dầu: trước khi lãnh bí tích Rửa tội (dầu dự tòng) và sau khi rửa tội (dầu chrisma hoặc myrion). Đang khi đó, từ thế kỷ VIII-IX, bên Tây phương, việc cử hành bí tích Thêm sức dần dần được tách ra khỏi việc cử hành bí tích Rửa tội. Trong bối cảnh đó, các nhà thần học tranh luận về “chất thể” của bí tích: việc đặt tay lên đầu hay xức dầu, hay cả hai? Cuộc tranh luận kéo dài qua nhiều thế kỷ. Các sách phụng vụ tìm một giải pháp kết hợp: một đàng Giám mục dang hai tay lên trên tất cả những ứng sinh và đọc lời khẩn cầu Thánh Thần[16]; đàng khác, vào chính lúc xức dầu, Giám mục đặt tay lên trán và làm dấu thánh giá trên mỗi ứng sinh. Đây cũng là giải pháp mà ĐTC Phaolô VI chọn lựa trong tông hiến Divinae consortium naturae. Sau khái niệm tổng quát như vậy, bây giờ chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu ý nghĩa của: 1) Việc xức dầu; 2) việc đặt tay; 3) ấn tín[17]. Như vừa nói, hai yếu tố đầu tiên được xem như “chất thể” (materia, hoặc cử chỉ), còn yếu tố thứ ba được xem như “mô thể” (forma).
Kinh Thánh và các Giáo phụ gán cho việc xức dầu nhiều ý nghĩa biểu tượng[18]: dầu là dấu hiệu của sự phong phú (Đnl 11,14), hoan lạc (Tv 23,5; 104,15), thanh tẩy (xức dầu trước và sau khi tắm), sức mạnh và dẻo dai (các lực sĩ bôi dầu lên thân thể trước khi giao đấu); dầu cũng là dấu chỉ của sự chữa lành vết thương (Is 1,6; Lc 10,34); cuối cùng dầu là dấu chỉ của vẻ đẹp, sức khỏe, và sức mạnh. Những ý nghĩa này thuộc về đời sống tự nhiên cũng được thâu nhận vào đời sống siêu nhiên qua các dấu chỉ bí tích. Việc xức dầu trước khi rửa tội (với dầu dự tòng) mang ý nghĩa thanh tẩy và tăng sức; dầu bệnh nhân mang ý nghĩa chữa lành và an ủi. Việc xức dầu chrisma sau khi rửa tội, trong bí tích Thêm sức và Truyền Chức Thánh là dấu hiệu của sự thánh hiến. Trong Cựu Ước, ba chức vụ quan trọng nhất của dân Israel đều được thánh hiến bằng việc xức dầu: các vua (1Sm 10,1), các tư tế (Xh 28,41) và đôi khi các ngôn sứ nữa (1 V 19,16). Khi đã đến thời viên mãn, Đức Kitô là Kẻ được xức dầu siêu đẳng, theo nghĩa là Người quy tụ nơi bản thân tất cả ba chức vụ ấy và đưa đến mức hoàn hảo[19]. Trong bí tích Rửa tội, Chúa Kitô mở rộng phẩm tính vua-ngôn sứ-tư tế cho những kẻ mà Người đã xức dầu thánh hiến. Trong bí tích Thêm sức, việc xức dầu thánh hiến được lặp lại và muốn nói đến sự hoàn bị và kích hoạt ba phẩm tính ấy, ngõ hầu mỗi người tín hữu có thể tỏa lan trong cuộc đời “hương thơm của Đức Kitô” (2 Cr 2,15; LG 11.12.33.34.35-36).
Ý nghĩa của dầu chrisma (một thứ dầu, thường là dầu ôliu trộn với hương liệu balsamo) được diễn tả trong kinh nguyện thánh hiến như sau:
Ngay từ trong Cựu Ước, chúng ta đã thấy việc đặt tay (lên đầu) như là dấu chỉ thánh hiến nhắm đến một chức vụ cùng với việc kêu cầu danh Thiên Chúa xuống trên người ấy, chẳng hạn như ông Mosê đặt tay lên đầu ông Giôsuê (Đnl 34,9). Trong Tân Ước, chúng ta thấy Chúa Giêsu đặt tay lên đầu các em bé và chúc lành cho chúng (Mt 19,13-16); lần khác, Người đặt tay để chữa lành (Mc 16,18; Lc 4,40), như trường hợp đối với con gái ông Giairo (Mc 5,23) hoặc người mù ở Betsaida (Mc 8,22-25). Các Tông đồ cũng đặt tay để trao ban Thánh Thần như bổ túc cho việc khai tâm Kitô giáo (Cv 8,17 trên những người đã được rửa tội ở Samaria; Cv 19,6 xuống trên vài môn đệ ở Ephêsô). Việc đặt tay được gắn liền với trao ban Thánh Thần nhắm đến một sứ vụ (Cv 6,6: cuộc phục vụ của nhóm Bảy người; Cv 13,3: sứ vụ của Phaolô và Barnaba; 1 Tm 4,14; 2 Tm 1,6: để truyền chức cho Timothê). Qua việc đặt tay, dấu hiệu của việc chúc lành và thánh hiến, phụng vụ muốn diễn tả việc Thiên Chúa chiếm hữu một người khi cho họ được đầy tràn Thánh Linh. Trong phụng vụ canh tân sau công đồng Vaticanô II, việc đặt tay được thực hành khi đọc kinh khẩn nài Thánh Linh (epiclesis). Bàn tay của Thiên Chúa, được biểu thị qua bàn tay của một tác viên Giáo hội, được dang lên những người hoặc đồ vật mà Thiên Chúa muốn thánh hóa.
Như đã nói trên đây, trong nghi thức Thêm sức, có hai lần đặt tay: một lần trên tất cả các ứng sinh đang khi Giám mục khần nài Thánh Linh đổ tràn bảy ân huệ; một lần vào chính lúc đặt tay lên trán từng ứng viên để xức dầu.
Tiếp theo, chúng ta tìm hiểu “mô thức” của bí tích, tức là công thức đọc khi xức dầu.
Qua việc xức dầu chrisma, người tín hữu nhận được một dấu ấn[20] là ấn tích của Thánh Thần. Trong truyền thống Kinh Thánh, ấn tích tượng trưng cho nhân vật đang sở hữu nó (St 38,18; Dc 8,6); là dấu chỉ của quyền hành (St 41,42), của sự sở hữu một vật (Đnl 32,34). Đó là lý do vì sao người ta khắc dấu ấn trên các quân nhân, các người nô lệ, các súc vật: để cho biết ai là chủ của những người hoặc vật ấy. Dấu ấn cũng chứng thực một hành vi (1 V 21,8) hay văn bản pháp lý (Gr 32,10), và đôi khi niêm phong kín đáo (Is 29,11). Chính Đức Kitô là tuyên bố rằng mình đã nhận được một dấu ấn của Chúa Cha (Ga 6,27). Kitô hữu cũng được ghi dấu bằng một ấn tín: “Thiên Chúa đã đóng ấn tín trên chúng ta và đổ Thần Khí vào lòng chúng ta làm bảo chứng” (2 Cr 1,22; Ep 1,13; 4,30). Dấu ấn của Thiên Chúa nhờ Thánh Thần đánh dấu việc chúng ta hoàn toàn thuộc về Đức Kitô, dấn thân phục vụ Người, và là lời hứa che chở trong cuộc thử thách cánh chung (Kh 7,2-4; 9,4).
Một cách cụ thể, khi ban bí tích Thêm sức, Giám mục đọc công thức “Hãy nhận lãnh ấn tích của Thánh Thần” đang khi xức dầu trên trán với dấu thánh giá. Dấu thánh giá (chữ Tau) cũng có thể hiểu như dấu ấn chứng thực người tín hữu thuộc về Đức Kitô (xc. Ed 9,4-6; Kh 7,3; 9,4). Việc dùng ngón tay cái để xức dầu lên trán cũng gợi lên quyền năng của Thánh Thần, được Kinh Thánh ví như ngón tay của Thiên Chúa[21].
Sau những nghiên cứu về ý nghĩa của bí tích Thêm sức, bây giờ chúng ta bước sang khía cạnh thực hành, tìm hiểu những đòi hỏi đặt ra cho việc lãnh nhận bí tích. Ở đây, chúng tôi không bàn đến quy định của Bộ Giáo luật về những điều kiện để lãnh bí tích, vì đã được bàn trong một bài khác. Trong mục này, chúng tôi chỉ đề cập đến một vài vấn đề mục vụ, liên quan đến: 1/ Tuổi lãnh bí tích; 2/ Vai trò của cộng đoàn trong việc chuẩn bị ứng viên; 3/ Huấn giáo về các bí tích.
Như đã nói trên đây, bên các Giáo hội Đông phương, ba bí tích Khai tâm được ban cùng một lúc, kể cả các ấu nhi. Bên Tây phương, những người lớn cũng được lãnh nhận ba bí tích Khai tâm cùng lúc. Trong cả hai trường hợp ấy, tuổi lãnh bí tích không thành vấn đề. Nhưng vấn đề được đặt ra cho các trẻ em theo nghi điển Rôma, nơi mà bí tích Thêm sức được tách rời khỏi bí tích Rửa tội: Đến mấy tuổi mới được lãnh bí tích Thêm sức? Nên để các em lãnh bí tích Thêm sức trước hay là sau bí tích Thánh Thể (rước lễ vỡ lòng)? Để trả lời cho các câu hỏi đó, a) trước tiên chúng ta ôn lại lịch sử; b) kế đó là xem những lý do được nêu ra để tăng hoặc giảm tuổi lãnh bí tích Thêm sức.
Sách Nghi thức 1971 lưu ý rằng việc chuẩn bị các ứng sinh lãnh bí tích Thêm sức không chỉ là nhiệm vụ của các mục tử mà còn là của cộng đoàn Kitô hữu và của các cha mẹ nữa (số 3).
Đối với những người lớn chuẩn bị lãnh bí tích khai tâm, họ nhận được sự quan tâm của cộng đoàn qua việc tham gia tiệm tiến vào phụng vụ, cũng như việc đồng hành của các giáo lý viên.
Đối với các trẻ em, các cha mẹ có nhiệm vụ lo lắng cho các em được tham gia các lớp giáo lý, nhưng đồng thời họ cũng chuẩn bị cho con em bằng cách nêu gương sáng sống đời Kitô hữu, cách riêng trong việc tham dự phụng vụ. Ngoài ra, các người đỡ đầu cũng có bổn phận trong lãnh vực này, nhưng tiếc rằng ngày nay, vai trò “đỡ đầu” thường chỉ có tính cách danh dự! Trong tiếng Việt, từ “đỡ đầu” có lẽ ám chỉ việc họ nâng đầu của người được rửa tội đang khi tác viên đổ nước. Trong lịch sử Giáo hội, người đỡ đầu được gọi là sponsor, nghĩa là “bảo lãnh”, xét về nhiều phương diện. Thứ nhất, thời xưa, vào thời cấm đạo, người bảo lãnh giới thiệu với cộng đoàn một ứng viên, bảo đảm rằng đương sự thực tâm theo đạo, chứ không phải người được cài vào để do thám sinh hoạt của cộng đoàn. Thứ hai, người bảo lãnh làm chứng là ứng viên đã được chuẩn bị đầy đủ để lãnh bí tích; dĩ nhiên, chính người bảo lãnh đã đảm nhận vai trò huấn luyện cho người dự tòng. Thứ ba, người bảo lãnh còn tiếp tục đồng hành với tân tòng trong đời sống đức tin.
Dĩ nhiên, nội dung chính của việc huấn giáo bí tích là đạo lý Công giáo về bí tích cũng như các lễ nghi kèm theo phụng vụ bí tích. Tuy nhiên, cái “cốt lõi” đó cần được thích nghi vào điều kiện tuổi tác của ứng sinh, mà ta tạm phân chia thành ba hoàn cảnh:
a) Các thiếu nhi ở lứa tuổi học đường (tiểu học hay trung học). Các em sẽ nhận lãnh bí tích Thêm sức hoặc trước hoặc sau khi rước lễ lần đầu, tùy quy định của Hội đồng Giám mục.
b) Những người thanh thiếu niên hay người trưởng thành. Họ gia nhập “đoàn dự tòng” và theo dõi chương trình đào tạo theo các nghi thức khai tâm dành cho người lớn.
c) Một hạng người nữa chỉ muốn lãnh bí tích Thêm sức nhằm hoàn tất thủ tục giáo lý để kết hôn.
Hội đồng Giám mục phải lo liệu soạn những chương trình đào tạo cho mỗi hạng vừa nói (Nghi thức Thêm sức số 12). Nên biết là ở nhiều quốc gia, giai đoạn dự tòng kéo dài từ 3 đến 5 năm. Lý do là vì việc huấn giáo không chỉ giới hạn vào việc học thuộc lòng những gì nằm trong sách giáo lý, mà còn phải uốn nắn đời mình theo những yêu sách của Tin Mừng. Điều này được nhắc nhở ở số 1309 của GLCG: “Việc chuẩn bị cho bí tích Thêm sức phải nhắm dẫn đưa Kitô hữu đến sự kết hợp thân mật hơn với Đức Kitô, đến sự kết hợp sống động hơn với Chúa Thánh Thần, với hoạt động của Ngài, với các hồng ân của Ngài, với sự thân thiết trước những mời gọi của Ngài, để họ có thể đảm nhận cách tốt hơn những trách nhiệm tông đồ của đời sống Kitô hữu. Do đó, giáo lý Thêm sức phải cố gắng khơi dậy ý thức mình thuộc về Hội thánh của Chúa Giêsu Kitô, Hội thánh phổ quát cũng như cộng đoàn giáo xứ. Cộng đoàn này có trách nhiệm đặc biệt trong việc chuẩn bị cho những người sắp chịu phép Thêm sức”.
Để kết luận, chúng ta có thể tóm lại vài điểm thực hành về mối tương quan giữa bí tích Thêm sức và cuộc sống Kitô hữu.
Trong các buổi học giáo lý, một câu hỏi thường được nêu lên là: bí tích Thêm sức có thêm điều gì mới mẻ so với bí tích Rửa tội không? Có lẽ vấn nạn này được nêu lên khi chúng ta quan niệm bí tích Thêm sức như một thực tại khác biệt với bí tích Rửa tội (chẳng hạn như khi so sánh bí tích Truyền Chức Thánh với bí tích Hôn Phối). Thần học ngày nay muốn nhìn bí tích Thêm sức trong sự liên tục giữa ba bí tích Khai tâm. Dưới viễn ảnh này, bí tích Thêm sức đến “kiện toàn” (perficere) điều đã được nhận lãnh trong bí tích Rửa tội [24].
Trong bí tích Rửa tội , người tín hữu đã nhận lãnh các ân sủng và ân huệ Thánh Thần, ví như các nén bạc được Chúa trao. Bí tích Thêm sức có thể ví như lời mời gọi người tín hữu hãy tăng trưởng trong đời sống Kitô hữu, hãy đáp lại những ân huệ đã nhận lãnh, hãy sống trọn vẹn những yêu sách của mầu nhiệm được cử hành. Nói khác đi, bí tích Thêm sức kêu gọi người tín hữu hãy sống trọn vẹn ơn gọi của mình, mà ta có thể vạch ra vài nét chính như sau:
Thánh Thần được trút đổ trên người tín hữu để ghi dấu trên họ một cách đặc biệt như là “con người của Thần Khí”, thúc đẩy họ sống và hành động theo Thánh Thần (x. Gl 5,15.15). Vì thế họ hãy để Thánh Thần chiếm đoạt họ và dẫn dắt họ trên đường đời. Điều này có nghĩa là họ hãy ngoan ngoãn, hợp tác với những sự thúc giục của Ngài (x. Rm 8,14; Gl 5,18). Họ hãy để cho Thánh Thần uốn nắn họ ngõ hầu càng ngày càng trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô hơn. Để được như vậy, họ cần cố gắng sống mầu nhiệm của Đức Kitô, cách riêng qua đời sống cầu nguyện, nhờ đó, họ cũng cảm nghiệm được mối tương quan thảo hiếu với Chúa Cha.
Trong bí tích Thêm sức, Thánh Thần củng cố mối dây liên kết người tín hữu với Hội thánh, vì thế họ hãy để cho Ngài dẫn dắt trong việc tham gia sâu đậm hơn vào đời sống và sứ mạng của Hội thánh.
Thánh Tôma Aquinô ví hành động của Thánh Thần với việc đạt đến tuổi trưởng thành (ad perfectam aetatem)[25], và lý giải như thế này. Người được rửa tội ví được như ấu nhi, chỉ sống cho mình; đến khi lãnh bí tích Thêm sức, họ bắt đầu cộng tác với người khác. Điều này có thể hiểu như là lãnh trách nhiệm trong cuộc sống của cộng đoàn, cộng đoàn Giáo hội và cũng như cộng đoàn xã hội. Ta cũng có thể hiểu như là đem các đặc sủng mà Thánh Thần đã ban cho mình để phục vụ cộng đoàn, đảm nhận các công tác và chức vụ hữu ích cho việc xây dựng và canh tân Hội thánh (xc. LG 12).
Trong bối cảnh ấy, ta có thể hiểu được vì sao công đồng Vaticanô II nhấn mạnh rằng do bí tích Thêm sức, người tín hữu được đặc cử thi hành sứ vụ tông đồ của Hội thánh (xc. AA 2-3; LG 33). Thật vậy, họ nhận được sức mạnh đặc biệt của Thánh Thần để làm chứng tá cho Đức Kitô (LG 11), đặc biệt bằng đời sống và gương sáng của đức tin, đức cậy và đức mến (LG 31). Công đồng còn dùng một lối nói khác để diễn tả sự tham gia vào đời sống của Hội thánh qua việc sống sâu đậm ba chức vụ tư tế - ngôn sứ - vương đế : qua chức vụ tư tế, các tín hữu tham gia tích cực vào phụng vụ của Hội thánh và biến cuộc đời thành hy lễ thiêng liêng dâng lên Thiên Chúa; qua chức vụ ngôn sứ, họ có nhiệm vụ quảng bá và bảo vệ đức tin; qua chức vụ vương đế, họ được mời gọi sống đức ái qua việc phục vụ anh chị em cũng như thấm nhuần tinh thần Tin Mừng vào trần gian.
Các sách giáo lý thường nói đến “sức mạnh đặc biệt của Thánh Thần” được ban khi lãnh bí tích Thêm sức. Chúng ta có thể hiểu “sức mạnh” theo nhiều nghĩa. Nghĩa đơn giản hơn cả là sức mạnh hoặc lòng can đảm để sống ơn gọi làm chứng tá cho Tin Mừng. Theo một nghĩa sâu xa hơn nữa, thần học nói đến “ấn tích”, nghĩa là một dấu chỉ không thể xóa nhòa được in vào linh hồn. Điều này có nghĩa là Thiên Chúa “cam đoan” sẽ bảo vệ người tín hữu. Đối lại, người tín hữu cũng cam kết kiên trì với ân huệ đã nhận lãnh. Lời khuyên mà thánh Phaolô nhắn nhủ ông Timothê phần nào cũng có thể áp dụng cho những người đã lãnh ân huệ Thánh Linh: “Tôi nhắc anh phải khơi dậy ân huệ của Thiên Chúa mà anh đã nhận được qua việc đặt tay” (2 Tm 1,6). Chúng ta cần phải khơi dậy ân huệ đã nhận, qua việc tưởng nhớ và kiên trì trong đời sống và sứ vụ của người Kitô hữu.
[1] SC 71; LG 11, 26, 33; PO 5; AA 3; OE 13, 14; AG 11, 36.
TÓM KẾT THẦN HỌC VỀ BÍ TÍCH THÊM SỨC
0
Thời sự Thần học - Số 104, tháng 05/2024, tr. 88-122
@ José Antonio Velasco
Dẫn Nhập. Bản chất của bí tích Thêm Sức trong những văn kiện Tòa thánh từ công đồng Vaticanô II
I. Tiếp cận thần học bí tích: Bí tích Thêm Sức với các bí tích Khai tâm.
So sánh tiến trình khởi đầu, phát triển, tăng trưởng:
1/ trong đời sống siêu nhiên;
2/ trong mầu nhiệm Đức Kitô;
3/ trong mầu nhiệm Hội Thánh.
II. Tiếp cận hiện sinh: Những công hiệu của bí tích Thêm Sức
1/ Được tăng cường một sức mạnh đặc biệt.
2/ Gắn bó với Hội Thánh cách hoàn hảo hơn.
3/ Ấn tín (character) bí tích
III. Tiếp cận huấn giáo huyền nhiệm: Ý nghĩa của các cử chỉ và lời đọc.
1/ Xức dầu chrisma.
2/ Đặt tay.
3/ Dấu ấn (sigillum)
IV. Tiếp cận mục vụ. Việc huấn luyện các ứng viên lãnh nhận bí tích.
1/ Tuổi để lãnh bí tích.
2/ Vai trò của cộng đoàn trong việc chuẩn bị các ứng viên.
3/ Nội dung huấn giáo.
Kết luận. Bí tích Thêm Sức với đời sống Kitô giáo
Nguồn: “La identidad del sacramento de la confirmación” in: Teología y Catequesis 74 (2000) 25-44.
Viết tắt: GLCG = Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo.
I. Tiếp cận thần học bí tích: Bí tích Thêm Sức với các bí tích Khai tâm.
So sánh tiến trình khởi đầu, phát triển, tăng trưởng:
1/ trong đời sống siêu nhiên;
2/ trong mầu nhiệm Đức Kitô;
3/ trong mầu nhiệm Hội Thánh.
II. Tiếp cận hiện sinh: Những công hiệu của bí tích Thêm Sức
1/ Được tăng cường một sức mạnh đặc biệt.
2/ Gắn bó với Hội Thánh cách hoàn hảo hơn.
3/ Ấn tín (character) bí tích
III. Tiếp cận huấn giáo huyền nhiệm: Ý nghĩa của các cử chỉ và lời đọc.
1/ Xức dầu chrisma.
2/ Đặt tay.
3/ Dấu ấn (sigillum)
IV. Tiếp cận mục vụ. Việc huấn luyện các ứng viên lãnh nhận bí tích.
1/ Tuổi để lãnh bí tích.
2/ Vai trò của cộng đoàn trong việc chuẩn bị các ứng viên.
3/ Nội dung huấn giáo.
Kết luận. Bí tích Thêm Sức với đời sống Kitô giáo
Nguồn: “La identidad del sacramento de la confirmación” in: Teología y Catequesis 74 (2000) 25-44.
Viết tắt: GLCG = Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo.
Dẫn Nhập
Các sách giáo lý cổ điển thường trình bày công hiệu chính của bí tích Thêm sức là bảy ơn Đức Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên gần đây, người ta nhận thấy lối nói ấy không ổn, bởi vì Chúa Thánh Thần đã được ban khi lãnh bí tích Rửa tội rồi. Như vậy, bí tích Thêm sức có mang lại điều gì mới không? Mặt khác, có nhiều câu hỏi được đặt lên không kém phần hóc búa, liên quan đến nền tảng Kinh Thánh: Tân Ước nói đến bí tích Thêm sức ở chỗ nào? Phải chăng sự tách rời bí tích Thêm sức ra khỏi bí tích Rửa tội chẳng qua chỉ là do hoàn cảnh lịch sử chứ không dựa trên Lời Chúa? Điều gì làm nên bản chất của bí tích Thêm sức? Thần học kinh viện thường phân tích bản chất của bí tích qua việc sử dụng các phạm trù triết học là “chất thể” (materia) và “mô thể” (forma); thế nhưng không phải tất cả các nghi điển bên Đông và bên Tây đều thống nhất với nhau trong lãnh vực này. Thậm chí, sau công đồng Vaticanô II, ĐTC Phaolô VI đã thay đổi công thức khi xức dầu chrisma. Phải chăng Giáo hội có quyền thay đổi các yếu tố cốt yếu của bí tích?
Trên thực tế, bản chất của bí tích Thêm sức rất phong phú, và cần dùng nhiều lối tiếp cận để có một cái nhìn bao quát. Trước hết, chúng ta hãy điểm qua các văn kiện quan trọng của huấn quyền Giáo hội Công giáo kể từ công đồng Vaticanô II; từ đó chúng ta sẽ thấy những khía cạnh khác nhau của thần học bí tích Thêm sức.
1. Công đồng Vaticanô II
Công đồng đề cập đến bí tích Thêm sức trong nhiều văn kiện[1], dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Hiến chế về phụng vụ (số 71) yêu cầu trình bày rõ ràng hơn mối tương quan giữa bí tích Thêm sức với các bí tích Khai tâm Kitô giáo. Hiến chế LG (số 11) kể ra những công hiệu của bí tích như sau: sự kết hợp chặt chẽ hơn với Hội thánh, một sức mạnh đặc biệt của Thánh Thần, cam kết trở nên chứng nhân cho Chúa Kitô.
2. Tông hiến Divinae consortium naturae của ĐTC Phaolô VI (15/8/1971)
Tông hiến duyệt lại nghi thức bí tích Thêm sức theo ước nguyện của công đồng Vaticanô II. Có những điểm sau đây đáng ghi nhận:
a) ĐTC đã xác định chất thể (xức dầu chrisma trên trán) và mô thể (Accipe signaculum doni Spiritus sancti)
b) Về công hiệu của bí tích, tông hiến nói rằng người tín hữu không chỉ lãnh nhận sức mạnh đặc biệt của Thánh Thần (LG 11), nhưng còn nhận lãnh chính Thánh Thần là hồng ân vô biên.
c) Khi lãnh bí tích Rửa tội, người tín hữu đã nhận lãnh Thánh Thần, nhờ đó họ trở nên đền thờ của Ngài, được tha thứ tội lỗi, được làm nghĩa tử của Thiên Chúa. Trong bí tích Thêm sức, Thánh Thần được ban với một ý nghĩa khác biệt. Có sự tăng trưởng giữa bí tích Rửa tội và bí tích Thêm sức, ví được như Thánh Thần đáp xuống Đức Giêsu lúc chịu phép rửa ở sông Giorđanô để bắt đầu sứ vụ công khai, với Thánh Thần được ban cho các môn đệ vào lễ Ngũ Tuần, cũng như những lần khác Thánh Thần đáp xuống khi các Tông đồ đặt tay trên các người được rửa tội.
3. Nghi thức thêm sức (Ordo confirmationis) năm 1971
Tuy lấy lại giáo huấn của Tông hiến trên đây, nhưng trong bài giảng mẫu, văn kiện đã thêm vài chi tiết liên quan đến công hiệu của bí tích như sau: “Các con thân mến, hồng ân Thánh Thần mà các con sắp nhận lãnh sẽ ghi một dấu ấn thiêng liêng và làm cho các con trở thành những phần tử hoàn hảo hơn của Hội thánh bằng cách làm cho các con trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô hơn, là Đấng cũng đã được Thánh Thần xức dầu lúc chịu phép rửa và được sai đi ngõ hầu toàn thế giới được cháy bừng bởi ngọn lửa Thánh Thần”. Như vậy văn kiện muốn nêu bật khía cạnh sứ vụ của việc xức dầu và trao ban Thánh Thần, và không bỏ qua sự tăng trưởng trong tương quan với Đức Kitô.
4. Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo năm 1992
Sách Giáo lý thâu nhận những điểm đã nói trên đây, cách riêng liên quan đến tương quan giữa bí tích Thêm sức với tiến trình khai tâm (số 1285: đưa ân sủng rửa tội đến mức sung mãn), cũng như công hiệu của bí tích (số 1302: một sự tuôn đổ Thánh Thần cách đặc biệt giống như vào lễ Ngũ tuần), được tóm lại ở số 1303: tăng trưởng và đào sâu ân sủng rửa tội, nghĩa là đào sâu ơn làm con cái Chúa, kết hiệp mật thiết với Đức Kitô, tăng thêm các ân huệ Thánh Thần, và sức mạnh đặc biệt để bảo vệ đức tin. Ngoài ra sách Giáo lý cũng không bỏ qua vấn đề tuổi của ứng viên (số 1308), cũng như vấn đề tác viên, dung hòa giữa truyền thống Đông phương và Tây phương (số 1312-1314).
Như vậy, bí tích Thêm sức có thể nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, tạm gọi là những lối tiếp cận, được gom lại vào bốn mục: 1)Tiếp cận thần học bí tích: Bí tích Thêm sức với các bí tích Khai tâm. 2) Tiếp cận hiện sinh: Những công hiệu của bí tích Thêm sức. 3) Tiếp cận huấn giáo nhiệm tích: Ý nghĩa của các dấu chỉ bí tích. 4) Tiếp cận mục vụ: chuẩn bị các ứng viên nhận lãnh bí tích. Mỗi lối tiếp cận đều dựa trên nền tảng Kinh Thánh và truyền thống.
I. Tiếp cận thần học bí tích: Bí tích Thêm sức với các bí tích khai tâm
Trước đây, các sách giáo khoa thần học thường bắt đầu khảo luận về bí tích Thêm sức bằng cách trưng dẫn hai đoạn sách Công vụ Tông đồ (8,14-17[2] và 19,5-6[3]) để cho thấy rằng sau khi đã được rửa tội, các tín hữu cần được các thánh Tông đồ đặt tay để nhận lãnh Thánh Thần; như vậy ngoài bí tích Rửa tội, còn có một bí tích khác nữa để trao ban Thánh Thần. Tuy nhiên, phương pháp này đã bị chỉ trích ít là vì hai lý do: một đàng là thần học Kinh Thánh về việc trao ban Thánh Thần, đàng khác là lịch sử phụng vụ.
Xét về nền tảng Kinh Thánh, không thể tách rời bí tích Rửa tội ra một bên (mà công hiệu là ban ơn tha tội) và bí tích Thêm sức ra một bên (mà công hiệu là thông ban Thánh Thần). Thật vậy, bản chất của bí tích Rửa tội là “tái sinh trong nước và Thánh Thần” (Ga 3,3-5). Mặt khác, Tân Ước có nhiều đoạn nói đến việc thông ban Thánh Thần trước khi rửa tội (Cv 10,47-48), và thậm chí đôi khi việc trao ban Thánh Thần không gắn liền với một nghi thức nào hết (Cv 2,7-41; 4,8-31; 10,14-17; 15,2-4; 20,23).
Xét về lịch sử, vào những thế kỷ đầu tiên, việc rửa tội và trao ban Thánh Thần diễn ra trong cùng một buổi cử hành, không có sự tách biệt giữa nghi thức rửa tội và xức dầu thánh. Từ thế kỷ III, do sự tăng gia số những người trở lại đạo và số người rửa tội, cũng như những trường hợp các thơ nhi sắp chết, Giáo hội buộc phải lựa chọn một trong hai biện pháp: một là Giám mục ủy quyền cho các linh mục được cử hành nghi thức khai tâm (bao gồm việc rửa tội và việc xức dầu tiếp theo), với nguy cơ là làm mất tính hợp nhất hữu hình của cộng đồng Hội thánh (được tượng trưng nơi Giám mục); hai là các linh mục chỉ rửa tội, còn việc xức dầu (hay đặt tay) được dành cho Giám mục, với nguy cơ là làm mất tính hợp nhất của tiến trình khai tâm. Các giáo hội Đông phương (và Tây ban nha) chọn giải pháp thứ nhất. Rôma chọn giải pháp thứ hai, mặc dù đây đó các linh mục vẫn xức dầu thánh lúc rửa tội. Mãi đến thời Trung cổ, kỷ luật bên Tây phương mới đồng nhất, và từ đó bắt đầu phát triển thần học về bí tích Thêm sức tách rời khỏi bí tích Rửa tội.
Ngày nay, nhờ những cuộc nghiên cứu lịch sử cũng như đối chiếu với quan niệm thần học của Giáo hội Đông phương, người ta thấy sự cần thiết phải lồng bí tích Thêm sức trong toàn thể tiến trình khai tâm Kitô giáo, vạch ra sự liên tục và tiến triển giữa bí tích Rửa tội và Thêm sức, thay vì coi như hai thực thể biệt lập. Việc khai tâm Kitô giáo là một tiến trình năng động, có sự tăng trưởng từ lúc khởi đầu cho đến lúc trưởng thành. Văn kiện “Các nghi thức khai tâm Kitô giáo” (bộ Phụng tự ban hành ngày 6/01/1972) mở đầu với những lời như sau:
Nhờ các bí tích khai tâm Kitô giáo, con người, được kết hợp với Đức Kitô trong cái chết, mai táng và phục sinh của Người, được giải thoát khỏi quyền lực tối tăm, lãnh nhận Thánh Thần nghĩa tử và cử hành, cùng với toàn thể dân Thiên Chúa, việc tưởng niệm cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô (AG 11). – Nhờ bí tích Rửa Tội, họ nhận được ơn tha thứ tội lỗi, được giải thoát khỏi quyền lực tối tăm và được chuyển vào tình trạng làm dưỡng tử; được tái sinh nhờ nước và Thánh Thần, họ trở thành thụ tạo mới (xc Cl 1,13; Rm 8,15; Gl 4 5): vì thế họ được gọi và họ thực sự là con cái Thiên Chúa (Xc. 1 Ga 3,1). Như vậy, được tháp nhập vào Đức Kitô, họ được thiết lập thành dân Thiên Chúa. - Trong bí tích Thêm Sức, họ được ghi dấu Thánh Thần là hồng ân của Chúa Cha, các người được rửa tội được nên đồng hình đồng dạng sâu xa hơn với Đức Kitô và được dồi dào Thánh Thần hơn, để có khả năng mang vào thế giới chứng tá của Thánh Thần cho đến mức trưởng thành sung mãn của thân thể Đức Kitô (AG 36). – Sau cùng, nhờ tham dự cộng đoàn Thánh Thể, các tín hữu ăn thịt và uống máu của Con Người (Xc. Ga 6,55), để nhận lãnh sự sống đời đời và biểu lộ sự hợp nhất của dân Thiên Chúa. Khi dâng hiến bản thân cùng với Đức Kitô, họ được hòa nhập vào hy tế phổ quát, là toàn thể nhân loại được cứu chuộc và dâng hiến cho Thiên Chúa nhờ Đức Kitô là vị thượng tế (LG 11; PO 2); và khẩn nài Chúa Cha tuôn đổ dạt dào Thánh Thần, ngõ hầu toàn thể nhân loại họp thành một gia đình duy nhất của Thiên Chúa (LG 28). Ba bí tích khai tâm kết hợp chặt chẽ với nhau, đưa các tín hữu đến sự trưởng thành Kitô hữu, nhờ đó họ có thể chu toàn, trong Giáo hội và thế giới, sứ mạng đặc biệt của dân Thiên Chúa (LG 31).
Theo đường hướng này, chúng ta có thể nói rằng giữa bí tích Rửa tội và bí tích Thêm sức có sự liên tục và tiến triển, cũng tương tự như khi so sánh với ba thực tại: đời sống tự nhiên; mầu nhiệm Đức Kitô; mầu nhiệm Hội thánh.
1. Đời sống tự nhiên và đời sống siêu nhiên
Đời sống tự nhiên có ba giai đoạn: khởi đầu, phát triển và tăng trưởng. Ta cũng có thể nói một cách tương tự về đời sống siêu nhiên (tức là sự thông hiệp vào bản tính Thiên Chúa). Sự khởi đầu tương ứng với việc tái sinh nhờ bí tích Rửa tội; phát triển và củng cố nhờ bí tích Thêm sức; tăng trưởng nhờ được nuôi dưỡng bằng lương thực Thánh Thể. Nhờ công hiệu của ba tích Khai tâm, các tín hữu càng ngày càng được nếm hưởng những kho tàng của đời sống thần linh và đạt đến sự trọn hảo của đức mến. Việc so sánh này đã được các giáo phụ đề cập, chẳng hạn như ông Tertullianô :
Thân xác được rửa, ngõ hầu linh hồn được giải thoát khỏi mọi vết nhơ; thân xác được xức dầu, ngõ hầu linh hồn được thêm sức; thân xác được che phủ bằng việc đặt tay, ngõ hầu linh hồn được Thánh Thần chiếu sáng; thân xác được dưỡng nuôi bằng Mình và Máu Chúa Kitô, ngõ hầu linh hồn cũng được nuôi dưỡng dồi dào bằng Thiên Chúa”[4]. Bên Đông phương, Nicola Cabasilas, một tác giả thế kỷ XIV, cũng áp dụng sự so sánh giữa đời sống tự nhiên với đời sống siêu nhiên vào ba bí tích Khai tâm: “Nhờ các bí tích Khai tâm loan báo cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô, chúng ta được tái sinh vào đời sống siêu nhiên được tăng trưởng và được kết hợp cách tuyệt vời với Đấng Cứu chuộc chúng ta: bí tích Rửa Tội cho chúng ta được hiện hữu và tồn tại trong Đức Kitô; bí tích Thêm Sức kiện toàn người tân tòng qua việc cung cấp những năng lực tương ứng với đời sống ấy; bí tích Thánh Thể kéo dài sự sống ấy, giúp cho nó sinh hoa kết quả, bảo tồn và duy trì năng lực đã lãnh nhận. Nói tóm lại, chúng ta sống nhờ bánh này, chúng ta được tăng sức nhờ việc xức dầu này, sau khi chúng ta nhận được sự hiện hữu trong việc dìm mình trong nước[5].
2. Mầu nhiệm Đức Kitô
Tân Ước cho thấy Thánh Thần hiện diện trong suốt cuộc đời của Đức Kitô, từ lúc được thụ thai cho đến khi được tôn vinh phục sinh.
a) Đức Kitô được thụ thai do quyền năng của Thánh Thần. Cũng như Thần Khí Thiên Chúa đã tác động vào lúc tạo dựng vũ trụ (St 1,2) và vào lúc tạo dựng con người theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa (St 1,27), thì vào thời viên mãn, chính nhờ quyền năng Thánh Thần mà Vị Trưởng tử của cuộc tái tạo được thụ thai và sinh ra trong cung lòng Trinh nữ Maria (Lc 1,35; Mt 1,20).
b) Đức Giêsu, trong Thánh Thần, đã được tấn phong làm Vua-Mêsia. Tại sông Giorđanô, Thánh Thần đáp xuống trên Đức Giêsu (xc Mc 1,10; Mt 3,16), ở lại với Người (Ga 1,32.33; xc. Is 11,2: thần khí xuống trên Đấng Mêsia; 42,1: Thần Khí Chúa xuống trên người tôi trung). Cũng như Thánh Thần đã ở với Đức Giêsu ngay từ đầu cuộc đời, giờ đây Thánh Thần hiện diện vào lúc bắt đầu sứ vụ công khai của Người để làm chứng công khai rằng Người thật là “Con yêu dấu” của Chúa Cha (Lc 3,22), như người Tôi trung cần phải chu toàn công tác của Chúa Cha (xc. Mt 3,15-17). Kể từ nay, Thánh Thần của Cha sẽ đồng hành với Đức Giêsu trong mọi hoạt động: “Người được Thánh Thần dẫn vào hoang địa” (Lc 4,1); “trở về Galilê với quyền năng của Thánh Thần” (4,14); tại hội đường Nazaret, Người cho biết sấm ngôn của Isaia ám chỉ về mình: “Thần Khí Thiên Chúa ngự trên tôi” (Lc 4,18; xc. Is 61,1-2); trong Thánh Thần, Người đương đầu với ma quỷ (Mt 4,1) và giải thoát các nạn nhân của y (Mt 12,28); trong Thánh Thần, Người làm phép rửa cho tất cả những ai muốn vào vương quốc mới được Người khai nguyên (Ga 1,33; 3,5); trong Thánh Thần, Người đập tan sự dữ và sự chết (Mt 12,28); trong Thánh Thần, Người chọn lựa và huấn luyện các môn đồ (Cv 1,2); trong Thánh Thần, Người hớn hở vui mừng vì hoàn toàn thân thiết với Chúa Cha (Lc 10,21; Mt 11,25-26).
c) Đức Giêsu, trong Thánh Thần, hoàn tất công trình Vượt qua. Khi đã đến “giờ”, khi “mọi sự đã hoàn tất”, “nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Người đã hiến dâng bản thân mình cho Thiên Chúa như của lễ không tì ố” (Hr 9,4) để thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những công việc của sự chết và cho phép chúng ta được phụng sự Thiên Chúa hằng sống. Thần Khí mà Người đã nhận lãnh lúc nhập thể và đã đồng hành với Người trong suốt sứ vụ của mình, giờ đây có thể được trao trả lại cho Chúa Cha (xc. Ga 19,30: “Người trao Thần Khí”) ngõ hầu trút đổ xuống Giáo hội vào lễ Ngũ tuần (Cv 2), là một điều đã được tiên báo qua việc nước vọt ra từ cạnh sườn Đấng Chịu Đóng đinh (Ga 19,34, cần đối chiếu với Ga 7,37-39 và 1 Ga 5,6-8: lời hứa ban Thánh Thần qua dấu chỉ của nước). Sau cùng, trong Thánh Thần, Chúa Giêsu trỗi dậy từ cõi chết với quyền năng (Rm 1,4) và được đặt làm Thần Khí ban sự sống (1 Cr 15,45).
Những đoạn trích dẫn dài dòng này chỉ có một mục tiêu duy nhất, đó là muốn cho thấy rằng trong cuộc đời của Đức Kitô, Thần Khí của Chúa Cha luôn hiện diện. Sự trao ban Thánh Thần mang tính liên tục: đây không phải là câu chuyện về lượng, ra như Chúa Cha ban Thánh Thần từng đợt một (từ chút ít đến nhiều hơn) nhưng là về phẩm: Chúa Cha luôn ban dồi dào Thánh Thần cho Đức Kitô nhưng nhằm đến những hoạt động khác nhau: để được thụ thai, để tấn phong vào lúc khởi đầu sứ vụ, để hoàn thành cuộc vượt qua vào giờ hy tế cứu chuộc.
3. Mầu nhiệm Hội thánh
Cũng tương tự như đối với cuộc đời Đức Kitô, ta thấy Thánh Thần được trao ban nhiều lần trong đời sống Hội thánh, với những giai đoạn sinh ra, lớn lên, tăng trưởng.
a) Hội thánh được sinh ra nhờ Thánh Thần. Điều này được thánh Gioan nêu bật khi đặt sự sinh ra của Hội thánh, như là bà Eva mới, từ cạnh sườn của Đức Kitô thiếp ngủ trên thập giá: “Từ cạnh sườn của Đức Kitô thiếp ngủ trên thập giá mà mầu nhiệm Hội thánh đã nảy sinh” (Hiến chế Sacrosanctum Concilium số 5). “Chàng, ông Ađam thứ hai, đã gục đầu thiếp ngủ trên thập giá, ngõ hầu từ cạnh sườn của người, một hôn thê được hình thành” (T. Augustinô). Nơi nước và máu trào ra từ cạnh sườn của Đấng chịu đóng định (xc. Ga 19,34), các giáo phụ đã nhận ra các bí tích vượt qua là Thánh Tẩy và Thánh Thể, những bí tích sản sinh Hội thánh.
b) Trong Thánh Thần của lễ Ngũ tuần, Hội thánh bắt đầu hoạt động truyền giáo. Khác với Gioan, Tin Mừng Nhất Lãm gắn việc trao ban Thánh Thần vào lễ Ngũ tuần với việc khởi đầu sứ vụ truyền giáo của Hội thánh cho đến tận cùng trái đất (Cv 1,8; 2,33). Chúa Cha đổ tràn Thần Khí của Chúa Con vào tâm hồn các môn đệ (Gl 4,6), đầy tràn đến nỗi họ được bùng cháy bởi Thần Khí và loan báo các kỳ công của Thiên Chúa. Trong Thánh Thần, các môn đệ được cử đi thì hành sứ vụ: ông Philipphê (Cv 8,26.29), ông Phêrô (Cv 10,20), ông Phaolô và Barnaba (Cv 13,2.4); Thánh Thần đồng hành và hướng dẫn họ trong hoạt động truyền giáo (Cv 16,6), chuẩn nhận các quyết định của họ (Cv 15,28).
c) Trong Thánh Thần, Hội thánh được kiến tạo chung quanh Lời và Thánh Thể. Thánh Thần cho phép Lời được tăng trưởng và bành trướng (Cv 6,7; 12,24) trong niềm hân hoan và tín thác (Cv 13,52). Thật vậy, Thánh Thần làm cho các Tông đồ lặp lại các hành động của Đức Giêsu, ban cho họ lòng khẳng khái để loan báo Lời của Đức Giêsu (Cv 4,30.31; 5,42; 6,7; 9,20; 18,5; 19,10.20). Cũng chính Thần Khí của Đấng Phục sinh duy trì sự đoàn kết giữa các môn đệ (Cv 2,42; 4,32), xây dựng sự hợp nhất của thân thể Đức Kitô (1 Cr 12,13), là nguyên ủy của sự thông hiệp (Ep 4,3, Pl 2,1) nhờ hồng ân của đức mến (1 Cr 13; 2 Cr 6,6; Gl 5,22; Rm 5,5).
Tóm lại, khi so sánh với đời sống tự nhiên, chúng ta thấy rằng đời sống siêu nhiên cũng trải qua các chặng liên tục của sự sinh ra, phát triển và tăng trưởng; tiến trình này cũng diễn ra trong mầu nhiệm Đức Kitô và mầu nhiệm Hội thánh, khi cùng một Thánh Thần tác động trong sự sinh ra, tăng trưởng và hoàn tất công trình cứu độ. Thánh Thần được thông ban nhiều lần, không phải tại vì những lần trước đây còn thiếu sót bất toàn, nhưng vì muốn nêu bật sự hiện diện liên lỉ của Chúa Cha giữa các môn đệ qua việc trao ban Thánh Thần tình yêu cho họ. Đây không phải là vấn đề số lượng (ít hay nhiều) nhưng là phẩm chất: mỗi lần can thiệp đều có một chức năng riêng biệt, mặc dầu luôn gắn liền với nguồn mạch là Thánh Thể[6].
Sau khi đã đặt bí tích Thêm sức trong khung cảnh của ba bí tích Khai tâm, nhằm nói lên sự liên tục và tiến triển, bây giờ chúng ta có thể tìm hiểu các đặc trưng của bí tích Thêm sức qua việc phân tích các “công hiệu” của nó, cách riêng là trong đời sống của người tín hữu.
II. Tiếp cận hiện sinh: Những công hiệu của bí tích Thêm sức
Theo sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, khi các tín hữu lãnh nhận bí tích cách xứng đáng, họ nhận được ơn thánh sủng, nghĩa là sự kết hiệp đời sống với Đức Kitô và chia sẻ vào bản tính thần linh của Người (xc. 1 Pr 1,4); ngoài ra họ còn nhận được “ân sủng bí tích” (gratia sacramentalis), nghĩa là ân sủng riêng của mỗi bí tích, nhằm đạt đến mục đích riêng của bí tích ấy[7]. Đó cũng là điều mà thần học gọi là “hiệu quả” (hay công hiệu, hoa trái) của bí tích, bao gồm vừa chiều kích cá nhân vừa chiều kích Hội thánh[8]. Dựa theo giáo huấn của Giáo hội[9], chúng ta có thể tóm lại công hiệu của bí tích Thêm sức vào ba điểm chính sau đây: 1/ Được tăng cường một sức mạnh đặc biệt. 2/ Gắn bó với Hội thánh cách hoàn hảo hơn. 3/ Ngoài ra, bí tích còn in vào linh hồn một “ấn tích”[10]. Chúng ta hãy xét từng điểm.
1. Được tăng cường một sức mạnh đặc biệt
Sức mạnh đặc biệt ở đây là chính Chúa Thánh Thần được ban như ân huệ. Khi nói đến việc trút đổ (trao ban) Thánh Thần, Kinh Thánh sử dụng các hình ảnh như là gió, gợi lên ý tưởng sức mạnh (Cv 2,2), sinh lực (Ga 6,63). Thánh Thần (hoặc Thần Khí, trong tiếng Hipri là ruah, tiếng Hy lạp pneuma) là một năng lực thần linh nâng con người lên trên sự mỏng dòn của mình và đưa vào thế giới của Thiên Chúa. Thần Khí Chúa là sức mạnh điều khiển lịch sử và là ánh sáng giải thích lịch sử nhờ các ngôn sứ. Khi can thiệp vào con người, Thần Khí hành động với sức mạnh siêu quần để hoàn tất các công trình của Thiên Chúa. Vì thế, người ta nói Thần Khí nhập vào, ập xuống một người (xc. Tl 14,6.19; 1 Sm 10,6; Ed 11,5). Với những lần can thiệp như vậy, Thần Khí gợi lên và thôi thúc những người được ủy thác việc điều khiển lịch sử thánh, và vì thế họ được Kinh Thánh gọi là những tôi tớ của Thiên Chúa (Am 3,7; Gr 7,25; Ed 38,17).
Khi nói đến Thánh Thần được ban trong bí tích Thêm sức như là “sức mạnh đặc biệt”, làm phong phú thêm bí tích Thánh Tẩy, chúng ta nên chú ý đến hạn từ “đặc biệt”, bởi vì Thánh Thần đã được ban trong bí tích Thánh Tẩy, nhờ đó chúng ta trở thành con cái Thiên Chúa, và ngài đã dạy chúng ta thốt lên “Áp-ba, Cha ơi!”. Chúng ta có thể tìm thấy một sự so sánh điều này nơi một vài nhân vật của Kinh Thánh. Kinh Thánh nói rằng “Thiên Chúa đã gọi họ từ khi còn trong lòng mẹ”. Thế rồi, đến một lúc nào đó trong cuộc đời, họ nhận được một sự chọn lựa đặc biệt nữa, mà ta tạm gọi là “ơn gọi ngôn sứ”, giúp cho họ can đảm thực hành điều đã hiện hữu trong mình khi được Thiên Chúa gọi từ trong lòng mẹ. Ta có thể nhận thấy điều này nơi tiếng gọi ngôn sứ Giêrêmia (1,5.9-10), tiếng gọi người tôi tớ Giavê (Is 49,1-5; 61,1), ông Gioan Tẩy giả (Lc 1,15.80), ông Phaolô (Gl 1,15). Qua tiếng gọi ngôn sứ này, Thiên Chúa can thiệp đặc biệt vào cuộc đời của một con người, kêu mời họ phục vụ kế hoạch cứu độ. Đối với chính các ngôn sứ, tiếng gọi này được coi như một danh nghĩa chính đáng để thi hành sứ vụ của mình. Thật vậy, các ngôn sứ giả hiệu là những người mà Thiên Chúa đã không kêu gọi cũng chẳng sai đi (xc. Gr 14,14t; 23,27.32; vv) và do đó Ngài đã không trao ban thần khí ngôn sứ.
Khi đem so sánh dữ kiện ấy vào bí tích Thêm sức, ta có thể hiểu được thế nào là “được tăng cường bằng một sức mạnh đặc biệt”: đó là một việc trao ban mới của cùng một Thánh Thần, Đấng đã được ban cho con người ngay từ trong lòng mẹ để trở thành con cái Thiên Chúa, nghĩa là để trở thành con cái Thiên Chúa, đến một lúc nào đó trong cuộc đời, cũng Thánh Thần ấy được trao ban để chúng ta hành động xứng hợp với ơn gọi là con cái Thiên Chúa. Đó là tiếng gọi ngôn sứ nhằm củng cố kẻ đã được rửa tội, và chứng thực với cộng đoàn ngõ hầu đương sự có thể ứng xử xứng hợp với ơn gọi làm con Thiên Chúa đã hiện hữu từ khi lãnh bí tích Thánh Tẩy. Như đã nói trên đây, chúng ta đừng hiểu theo nghĩa là tăng cường ân huệ theo “lượng” (ra như bí tích Thêm sức bù đắp thêm những gì còn thiếu sót trong bí tích Rửa tội), nhưng là theo “phẩm”, nghĩa là nhắm tới một sứ mạng đặc thù để linh hoạt những đặc sủng mà Thánh Thần đã ban (xc. 1 Cr 12-13).
Do đó, trong bí tích Thánh Tẩy, Thánh Thần ban cho ta được “hiện hữu trong Đức Kitô” và gắn kết chúng ta vào Thân thể của Người là Giáo hội; trong bí tích Thêm sức, Thánh Thần kiện toàn tiếng gọi ngôn sứ, nhằm thúc đẩy chúng ta hãy “hoạt động với Đức Kitô” để cứu độ thế giới. Sau cùng, trong bí tích Thánh Thể, con đường khai tâm trong Đức Kitô đạt đến cao điểm: một lần nữa, chúng ta lãnh nhận sự sung mãn của Thánh Thần; khi thông hiệp vào Mình Thánh Đức Kitô, chúng ta trở thành một thân thể và một tinh thần duy nhất, nghĩa là một cộng đoàn Giáo hội do quyền năng của Thánh Thần. Thánh Thần chủ trì và điều khiển sự sinh ra, phát triển và tăng trưởng của mọi cuộc sống: Ngài đã thực hiện điều đó nơi Đức Kitô, nơi Hội thánh, và vì thế nơi mỗi một người chúng ta.
2. Gắn bó với Hội thánh cách hoàn hảo hơn
Khi lãnh bí tích Rửa tội, chúng ta được tháp nhập vào Đức Kitô, đồng thời cũng được kết nạp vào thân thể của Người là Hội thánh. Trong bí tích Thêm sức, sự gắn bó với Hội thánh trở nên hoàn hảo hơn cho đến khi đạt đến sự sung mãn và tham dự vào bàn tiệc Thánh Thể. Ở đây cũng vậy, chúng ta cần làm rõ ý nghĩa của từ “hoàn hảo hơn”.
Trước đây, khi đề cập đến nền tảng Kinh Thánh của bí tích Thêm sức, các sách giáo khoa thần học thường trưng dẫn đoạn văn Tông đồ Công vụ 8,14-17 để chứng minh rằng Thánh Thần được ban do việc hai Tông đồ đặt tay lên những người đã được rửa tội. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta có thể đọc lại bản văn dưới một viễn tượng khác. Việc hai thánh tông đồ Phêrô và Gioan đặt tay muốn nói rằng hồng ân lễ Ngũ tuần được mở rộng đến cộng đoàn Samaria, và như thế là hủy bỏ sự phân tán của tháp Babel cũng như tất cả mọi rào cản, ngõ hầu tạo nên một đoàn dân duy nhất của Giao ước mới. Đoạn văn này cũng muốn nói lên sự hiệp thông của cộng đoàn Samaria với cộng đoàn mẹ ở Giêrusalem: Thánh Thần là nguyên ủy của sự thông hiệp Tam Vị cũng trở thành nguyên ủy của sự hiệp thông Hội thánh.
Truyền thống bên Tây phương (và kể cả một vài nơi bên Đông phương nữa) dành cho giám mục quyền ban bí tích Thêm sức. Điều này muốn nói rằng: vị giám mục tượng trưng cho sự hiện diện hữu hình của Chúa Kitô mục tử và trung tâm hữu hình của sự hợp nhất của Giáo hội, được ủy thác nhiệm vụ thực hiện tiếng gọi ngôn sứ kêu mời kẻ đã rửa tội hãy đảm nhận vai trò làm chứng tá để xây dựng cộng đoàn Hội thánh. Ta có thể coi sự nhìn nhận này như là một ân huệ đặc biệt của Thánh Thần: ngoài việc xác nhận đức tin lúc chịu phép rửa tội, ân huệ này liên kết người tín hữu chặt chẽ hơn vào sứ mạng của Hội thánh.
Tất cả những điều này được tóm gọn trong lời nhắn nhủ mở đầu cử hành bí tích Thêm sức khi Đức Giám mục nói:
Các con thân mến, việc ban Chúa Thánh Thần mà các con sắp lãnh nhận sẽ là ấn tín thiêng liêng làm cho các con nên giống Chúa Kitô và nên những chi thể hoàn hảo hơn của Hội thánh Người…Vậy các con đã chịu phép Rửa tội, giờ đây các con hãy lãnh nhận sức mạnh Thánh Thần của Đức Kitô và tiếp nhận dấu Thánh Giá Người trên trán các con. Bởi đấy các con phải làm chứng trước mặt thế gian về mầu nhiệm Khổ Nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô để đời sống các con trở nên hương thơm của Chúa Kitô khắp mọi nơi như lời Thánh Phaolô Tông đồ đã nói. Nhiệm thể Chúa Kitô là Hội thánh, là dân Thiên Chúa, tiếp nhận nhiều ơn của người, do Chúa Thánh Thần phân phát cho từng người, để xây dựng Nhiệm Thể Người trong sự hiệp nhất và trong đức ái. Vậy các con hãy trở nên những chi thể sống động của Hội thánh và nhờ Chúa Thánh Thần hướng dẫn, các con hãy cố gắng phục vụ mọi người theo gương Chúa Kitô, Đấng không đến để được phục vụ, nhưng là để phục vụ.
Đức Kitô, chứng nhân trung thành của Chúa Cha, được sinh trong lòng Trinh nữ Maria do quyền năng của Thánh Thần, cũng đã được chính Thánh Thần củng cố để thi hành cuộc xuất hành đau thương về với Chúa Cha (xc. Lc 3,21-22; 9,31). Tiếng gọi ngôn sứ mà Thánh Thần thực hiện trong bí tích Thêm sức trao cho người tín hữu một sứ mạng trong Hội thánh: làm chứng tá trung thành cho Đức Kitô và loan báo Tin Mừng. Động lực của Thánh Thần trở nên sức mạnh ngõ hầu có khả năng chu toàn sứ mạng của mình. Mỗi người lãnh bí tích Thêm sức có thể nói những lời của Đức Giêsu ở hội đường Nazareth:
Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa. (Lc 4,18-19).
3. Ấn tích của bí tích Thêm sức[11]
Cũng giống như bí tích Rửa tội, bí tích Thêm sức chỉ được ban một lần mà thôi. Quả vậy, bí tích Thêm sức in vào linh hồn một dấu ấn thiêng liêng và không thể xóa nhòa, gọi là “ấn tích”, là dấu chỉ mà Chúa Kitô đã đánh dấu một người tín hữu bằng dấu ấn của Thánh Thần, ban cho họ sức mạnh từ trời cao ngõ hầu họ trở thành chứng nhân trung tín của Người (xc. Lc 28,48-49).
Như là ấn tín thiêng liêng, Thánh Thần hoàn tất nơi các tín hữu việc trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô và kết hợp với Người thành những chi thể sống động của thân thể mầu nhiệm là Hội thánh. Đó là dấu hiệu bảo chứng của Thiên Chúa[12], ban cấp khả năng phụng tự và phục vụ Hội thánh.
Thật vậy, ấn tích này kiện toàn chức vụ tư tế phổ quát của các tín hữu đã được nhận lãnh trong bí tích Rửa tội. Theo thánh Tôma Aquinô, người được Thêm sức nhận được quyền năng để tuyên xưng Đức Kitô cách công khai, dường như là do một chức vụ chính thức vậy (quasi ex officio)[13]. Được xức dầu trên trán với ấn tín của Thánh Thần, họ có thể dâng hiến bản thân cùng với Đức Kitô Thượng Tế và khẩn nài Chúa tuôn đổ dạt dào Thánh Thần ngõ hầu tất cả nhân loại họp nên một gia đình duy nhất của Thiên Chúa. Ấn tích cũng là dấu chỉ không thể xóa nhòa nói lên sự tham dự của người tín hữu vào đời sống Hội thánh theo đặc sủng của mình. Thật vậy, Thánh Thần thánh hóa dân Thiên Chúa và trang điểm bằng các nhân đức, bằng việc phân phát các ân huệ cho mỗi người theo như Ngài muốn (1 Cr 12,11) và phân phát các đặc sủng cho các tín hữu, khiến cho họ có khả năng đảm nhận các công tác và chức vụ hữu ích cho việc canh tân và mở rộng Hội thánh, nhằm đến ích chung (1 Cr 12,7; xc. LG 12). Như vậy Thánh Thần làm cho Hội thánh được tăng trưởng, dạy dỗ và điều khiển Hội thánh với những ân huệ khác nhau, tô điểm Hội thánh nhờ các hoa trái của Ngài (xc. Ep 4,11-12; 1Cr 12,4; Gl 5,22; LG 4) trong sự hợp nhất và tình yêu, theo ý muốn của Chúa Cha.
Ấn tích của bí tích mang lại sự đa dạng của các đặc sủng và chức vụ tùy theo ơn gọi đặc trưng của mỗi người. Đến lượt các mục tử có nhiệm vụ thẩm định tính cách xác thực của các đặc sủng ấy, không phải để dập tắt nhưng là để chứng nghiệm thần khí, duy trì điều gì là tốt đẹp (1 Tx 5,12; 19-21). Vào buổi sáng lễ Ngũ tuần, đoàn dân mới, đã được sinh ra từ cái chết và sống lại của Đức Kitô, khi mà từ cạnh sườn chịu đâm thâu của Người nảy sinh mầu nhiệm của Hội thánh Hiền thê, giờ đây được cấp ban quyền năng Thánh Thần ngõ hầu loan báo cho đến cùng cõi địa cầu ơn cứu độ đã được khai trương và hướng đến cánh chung. Trong Hội thánh, mầu nhiệm Ngũ tuần được lặp lại mỗi khi những người đã được thánh hiến cho Thiên Chúa trong bí tích Rửa tội nhận lãnh quyền năng của Thánh Thần trong bí tích Thêm sức, nhắm đến việc thi hành các ân ban trong bí tích Rửa tội, tựa như: ơn ngôn sứ tức là loan báo Tin Mừng, chức tư tế tức là thi hành việc phụng tự trong cộng đoàn các tín hữu, chức vương đế tức là việc phục vụ anh chị em.[14]
III. Tiếp cận huấn giáo nhiệm tích: Những dấu chỉ của bí tích
Trong hai mục vừa rồi, chúng ta đã tìm hiểu bản chất của bí tích Thêm sức trong tương quan với các bí tích Khai tâm Kitô giáo cũng như công hiệu của bí tích trong đời sống người tín hữu. Bây giờ, chúng ta xét đến ý nghĩa của bí tích được diễn tả qua các yếu tố cấu thành. Điều này được bàn trong thần học kinh viện dưới tiêu đề “chất thể” (materia) và “mô thể” (forma) của bí tích. Ngày nay, thần học phụng vụ diễn tả qua các thuật ngữ “lễ nghi và lời nguyện” (per ritus et preces). Đây là một thứ huấn giáo dẫn vào nhiệm tích (mystagogia) quen được các giáo phụ thực hành nhằm giúp cho các tín hữu tham dự phụng vụ một cách có ý thức.
Đâu là những yếu tố cốt yếu của bí tích Thêm sức?
Trong những thế kỷ đầu tiên, bí tích Thêm sức được cử hành trong phụng vụ khai tâm, nghĩa là kết hợp với bí tích Thánh Tẩy và Thánh Thể; hay nói theo thánh Cyprianô, Thêm sức và Thánh Tẩy là một bí tích kép. Sau đó, bên Tây phương, do nhiều lý do khác nhau (sụt giảm chế độ người lớn dự tòng, tăng thêm việc rửa tội các ấu nhi, tăng gia các giáo xứ ở thôn quê, việc cử hành bí tích Rửa tội quanh năm chứ không chỉ giới hạn một lần trong đêm Vọng Phục sinh), nhằm giúp cho các giám mục có thể cử hành bí tích Thêm sức, cho nên bí tích được tách rời khỏi bí tích Thánh Tẩy. Bên Đông phương, người ta vẫn duy trì sự thống nhất giữa ba bí tích khai tâm kể cả trong trường hợp các ấu nhi: linh mục nào ban phép Rửa tội thì cũng ban phép Thêm sức (tuy với dầu myron do giám mục thánh hiến), và Thánh Thể. Bên Tây phương, sự thống nhất chỉ diễn ra trong trường hợp dự tòng là người lớn). Hai truyền thống này mang giá trị riêng của mình: Đông phương nhấn mạnh đến sự thống nhất giữa ba bí tích Khai tâm; Tây phương đề cao sự hiệp thông giữa mỗi người được rửa tội với Giám mục của mình, như là người bảo chứng và phục vụ tính duy nhất, công giáo và tông truyền của Giáo hội giáo phận, tức là mối dây nối kết với nguồn gốc Tông đồ của Hội thánh Chúa Kitô.
Theo ĐTC Phaolô VI, những yếu tố cốt yếu của bí tích Thêm sức là: việc xức dầu chrisma được thực hiện cùng với việc đặt tay, kèm theo những lời “Hãy lãnh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần.” [15] Như vậy phải chăng có ba yếu tố cốt yếu? Theo quan niệm thông thường về các bí tích, chỉ có hai yếu tố cốt yếu thôi, nói theo ngôn ngữ thần học kinh viện là “chất thể” và “mô thể” (materia – forma), hoặc nói theo ngôn ngữ huấn giáo là “cử chỉ” và “lời nói” (gestis verbisque). Chúng ta cũng có thể áp dụng cách phân tích ấy vào bí tích Thêm sức. Có điều là khi đề cập đến “chất thể” thì có hai quan niệm khác nhau: một bên nhấn mạnh đến việc đặt tay, một bên nhấn mạnh đến việc xức dầu; may thay cũng có ý kiến muốn dung hòa cả đôi bên.
Trong những thế kỷ đầu tiên, xem ra “cử chỉ” ban Chúa Thánh Thần là việc đặt tay, là một điều được thực hành với nhiều bí tích (chẳng hạn Thánh Thể, Truyền Chức Thánh), nhưng không dễ gì áp dụng cho bí tích Thêm sức. Lý do là vào thời đó, các nghi thức chưa được xác định rõ ràng. Từ thế kỷ thứ IV, bên Đông phương, cả ba bí tích được ban cùng một lúc; vì thế không có nghi thức đặt tay, mà chỉ có hai lần xức dầu: trước khi lãnh bí tích Rửa tội (dầu dự tòng) và sau khi rửa tội (dầu chrisma hoặc myrion). Đang khi đó, từ thế kỷ VIII-IX, bên Tây phương, việc cử hành bí tích Thêm sức dần dần được tách ra khỏi việc cử hành bí tích Rửa tội. Trong bối cảnh đó, các nhà thần học tranh luận về “chất thể” của bí tích: việc đặt tay lên đầu hay xức dầu, hay cả hai? Cuộc tranh luận kéo dài qua nhiều thế kỷ. Các sách phụng vụ tìm một giải pháp kết hợp: một đàng Giám mục dang hai tay lên trên tất cả những ứng sinh và đọc lời khẩn cầu Thánh Thần[16]; đàng khác, vào chính lúc xức dầu, Giám mục đặt tay lên trán và làm dấu thánh giá trên mỗi ứng sinh. Đây cũng là giải pháp mà ĐTC Phaolô VI chọn lựa trong tông hiến Divinae consortium naturae. Sau khái niệm tổng quát như vậy, bây giờ chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu ý nghĩa của: 1) Việc xức dầu; 2) việc đặt tay; 3) ấn tín[17]. Như vừa nói, hai yếu tố đầu tiên được xem như “chất thể” (materia, hoặc cử chỉ), còn yếu tố thứ ba được xem như “mô thể” (forma).
1. Việc xức dầu
Kinh Thánh và các Giáo phụ gán cho việc xức dầu nhiều ý nghĩa biểu tượng[18]: dầu là dấu hiệu của sự phong phú (Đnl 11,14), hoan lạc (Tv 23,5; 104,15), thanh tẩy (xức dầu trước và sau khi tắm), sức mạnh và dẻo dai (các lực sĩ bôi dầu lên thân thể trước khi giao đấu); dầu cũng là dấu chỉ của sự chữa lành vết thương (Is 1,6; Lc 10,34); cuối cùng dầu là dấu chỉ của vẻ đẹp, sức khỏe, và sức mạnh. Những ý nghĩa này thuộc về đời sống tự nhiên cũng được thâu nhận vào đời sống siêu nhiên qua các dấu chỉ bí tích. Việc xức dầu trước khi rửa tội (với dầu dự tòng) mang ý nghĩa thanh tẩy và tăng sức; dầu bệnh nhân mang ý nghĩa chữa lành và an ủi. Việc xức dầu chrisma sau khi rửa tội, trong bí tích Thêm sức và Truyền Chức Thánh là dấu hiệu của sự thánh hiến. Trong Cựu Ước, ba chức vụ quan trọng nhất của dân Israel đều được thánh hiến bằng việc xức dầu: các vua (1Sm 10,1), các tư tế (Xh 28,41) và đôi khi các ngôn sứ nữa (1 V 19,16). Khi đã đến thời viên mãn, Đức Kitô là Kẻ được xức dầu siêu đẳng, theo nghĩa là Người quy tụ nơi bản thân tất cả ba chức vụ ấy và đưa đến mức hoàn hảo[19]. Trong bí tích Rửa tội, Chúa Kitô mở rộng phẩm tính vua-ngôn sứ-tư tế cho những kẻ mà Người đã xức dầu thánh hiến. Trong bí tích Thêm sức, việc xức dầu thánh hiến được lặp lại và muốn nói đến sự hoàn bị và kích hoạt ba phẩm tính ấy, ngõ hầu mỗi người tín hữu có thể tỏa lan trong cuộc đời “hương thơm của Đức Kitô” (2 Cr 2,15; LG 11.12.33.34.35-36).
Ý nghĩa của dầu chrisma (một thứ dầu, thường là dầu ôliu trộn với hương liệu balsamo) được diễn tả trong kinh nguyện thánh hiến như sau:
Xin cho những người được xức dầu này thì được thánh hiến thành cung điện vinh quang của Chúa, tỏa hương thơm của cuộc đời thánh thiện. Ước gì chương trình tình thương của Chúa được thực hiện nơi họ, và đời sống toàn vẹn trong trắng của họ được phù hợp với phẩm tính cao trọng của các vua, tư tế và ngôn sứ. Nguyện cho dầu chrisma này trở nên dầu cứu rỗi cho tất cả những kẻ được tái sinh bởi nước và Thánh Thần, ban cho họ được tham dự vào đời sống vĩnh cửu trong bàn tiệc vinh quang của Chúa.
2. Việc đặt tay
Ngay từ trong Cựu Ước, chúng ta đã thấy việc đặt tay (lên đầu) như là dấu chỉ thánh hiến nhắm đến một chức vụ cùng với việc kêu cầu danh Thiên Chúa xuống trên người ấy, chẳng hạn như ông Mosê đặt tay lên đầu ông Giôsuê (Đnl 34,9). Trong Tân Ước, chúng ta thấy Chúa Giêsu đặt tay lên đầu các em bé và chúc lành cho chúng (Mt 19,13-16); lần khác, Người đặt tay để chữa lành (Mc 16,18; Lc 4,40), như trường hợp đối với con gái ông Giairo (Mc 5,23) hoặc người mù ở Betsaida (Mc 8,22-25). Các Tông đồ cũng đặt tay để trao ban Thánh Thần như bổ túc cho việc khai tâm Kitô giáo (Cv 8,17 trên những người đã được rửa tội ở Samaria; Cv 19,6 xuống trên vài môn đệ ở Ephêsô). Việc đặt tay được gắn liền với trao ban Thánh Thần nhắm đến một sứ vụ (Cv 6,6: cuộc phục vụ của nhóm Bảy người; Cv 13,3: sứ vụ của Phaolô và Barnaba; 1 Tm 4,14; 2 Tm 1,6: để truyền chức cho Timothê). Qua việc đặt tay, dấu hiệu của việc chúc lành và thánh hiến, phụng vụ muốn diễn tả việc Thiên Chúa chiếm hữu một người khi cho họ được đầy tràn Thánh Linh. Trong phụng vụ canh tân sau công đồng Vaticanô II, việc đặt tay được thực hành khi đọc kinh khẩn nài Thánh Linh (epiclesis). Bàn tay của Thiên Chúa, được biểu thị qua bàn tay của một tác viên Giáo hội, được dang lên những người hoặc đồ vật mà Thiên Chúa muốn thánh hóa.
Như đã nói trên đây, trong nghi thức Thêm sức, có hai lần đặt tay: một lần trên tất cả các ứng sinh đang khi Giám mục khần nài Thánh Linh đổ tràn bảy ân huệ; một lần vào chính lúc đặt tay lên trán từng ứng viên để xức dầu.
Tiếp theo, chúng ta tìm hiểu “mô thức” của bí tích, tức là công thức đọc khi xức dầu.
3. Dấu ấn
Qua việc xức dầu chrisma, người tín hữu nhận được một dấu ấn[20] là ấn tích của Thánh Thần. Trong truyền thống Kinh Thánh, ấn tích tượng trưng cho nhân vật đang sở hữu nó (St 38,18; Dc 8,6); là dấu chỉ của quyền hành (St 41,42), của sự sở hữu một vật (Đnl 32,34). Đó là lý do vì sao người ta khắc dấu ấn trên các quân nhân, các người nô lệ, các súc vật: để cho biết ai là chủ của những người hoặc vật ấy. Dấu ấn cũng chứng thực một hành vi (1 V 21,8) hay văn bản pháp lý (Gr 32,10), và đôi khi niêm phong kín đáo (Is 29,11). Chính Đức Kitô là tuyên bố rằng mình đã nhận được một dấu ấn của Chúa Cha (Ga 6,27). Kitô hữu cũng được ghi dấu bằng một ấn tín: “Thiên Chúa đã đóng ấn tín trên chúng ta và đổ Thần Khí vào lòng chúng ta làm bảo chứng” (2 Cr 1,22; Ep 1,13; 4,30). Dấu ấn của Thiên Chúa nhờ Thánh Thần đánh dấu việc chúng ta hoàn toàn thuộc về Đức Kitô, dấn thân phục vụ Người, và là lời hứa che chở trong cuộc thử thách cánh chung (Kh 7,2-4; 9,4).
Một cách cụ thể, khi ban bí tích Thêm sức, Giám mục đọc công thức “Hãy nhận lãnh ấn tích của Thánh Thần” đang khi xức dầu trên trán với dấu thánh giá. Dấu thánh giá (chữ Tau) cũng có thể hiểu như dấu ấn chứng thực người tín hữu thuộc về Đức Kitô (xc. Ed 9,4-6; Kh 7,3; 9,4). Việc dùng ngón tay cái để xức dầu lên trán cũng gợi lên quyền năng của Thánh Thần, được Kinh Thánh ví như ngón tay của Thiên Chúa[21].
IV. Tiếp cận mục vụ. Việc chuẩn bị các ứng viên lãnh nhận bí tích
Sau những nghiên cứu về ý nghĩa của bí tích Thêm sức, bây giờ chúng ta bước sang khía cạnh thực hành, tìm hiểu những đòi hỏi đặt ra cho việc lãnh nhận bí tích. Ở đây, chúng tôi không bàn đến quy định của Bộ Giáo luật về những điều kiện để lãnh bí tích, vì đã được bàn trong một bài khác. Trong mục này, chúng tôi chỉ đề cập đến một vài vấn đề mục vụ, liên quan đến: 1/ Tuổi lãnh bí tích; 2/ Vai trò của cộng đoàn trong việc chuẩn bị ứng viên; 3/ Huấn giáo về các bí tích.
1. Tuổi lãnh bí tích
Như đã nói trên đây, bên các Giáo hội Đông phương, ba bí tích Khai tâm được ban cùng một lúc, kể cả các ấu nhi. Bên Tây phương, những người lớn cũng được lãnh nhận ba bí tích Khai tâm cùng lúc. Trong cả hai trường hợp ấy, tuổi lãnh bí tích không thành vấn đề. Nhưng vấn đề được đặt ra cho các trẻ em theo nghi điển Rôma, nơi mà bí tích Thêm sức được tách rời khỏi bí tích Rửa tội: Đến mấy tuổi mới được lãnh bí tích Thêm sức? Nên để các em lãnh bí tích Thêm sức trước hay là sau bí tích Thánh Thể (rước lễ vỡ lòng)? Để trả lời cho các câu hỏi đó, a) trước tiên chúng ta ôn lại lịch sử; b) kế đó là xem những lý do được nêu ra để tăng hoặc giảm tuổi lãnh bí tích Thêm sức.
a) Lịch sử
Bên Tây phương, vào buổi đầu, các ấu nhi được thêm sức cùng lúc lãnh bí tích Rửa tội cũng giống như bên Đông phương. Đến thế kỷ IV, mới bắt đầu tách ra: các em bé phải chờ đến khi nào Giám mục đến kinh lý giáo xứ thì mới được thêm sức. Qua thời Trung cổ, công đồng Latêranô IV (năm 1215) buộc phải xưng tội rước lễ ít là mỗi năm một lần kể từ khi người tín hữu đến tuổi khôn (khoảng chừng 7 tuổi). Kể từ đó, các em được thêm sức (trước khi rước lễ) vào khoảng 7 tuổi.
Sang thế kỷ XVII và XVIII, theo tinh thần công đồng Trentô, trước khi lãnh bí tích, các ứng sinh phải theo học lớp giáo lý. Việc học giáo lý bắt đầu vào khoảng 7 tuổi. Qua thế kỷ XIX, ở nhiều nước Trung Âu, tuổi lãnh bí tích Thêm sức được tăng lên, với lý do là các em cần hiểu rõ ý nghĩa của bí tích, và nếu cần thì có thể được thêm sức sau khi rước lễ. Đây cũng là khuynh hướng bên Pháp đã có từ thế kỷ XVIII, nơi mà các em được thêm sức kể cả sau khi rước lễ lần đầu, nghĩa là chừng độ 11-12 tuổi. Đang khi đó, ở Tây Ban Nha và các lãnh thổ thuộc địa (Mỹ châu Latinh, Philippin), bí tích Thêm sức được ban cho các em từ khi còn ấu thơ, trước tuổi sử dụng trí khôn.
Năm 1910, ĐTC Piô X, (với Sắc lệnh Quamvis singularis), quyết định rằng tuổi để rước lễ vỡ lòng là tuổi khôn, tuy rẳng điều này không ảnh hưởng đến tuổi thêm sức. Trên thực tế, Bộ Giáo luật 1917 nói đến tập quán ban phép Thêm sức cho các em vào khoảng 7 tuổi (đ. 788). Năm 1932, Thánh Bộ các bí tích tuyên bố rằng các em bé nên lãnh bí tích Thêm sức trước khi rước lễ lần đầu. Văn kiện này đã gây ra tác dụng là nhiều giáo phận bên Pháp đã hạ tuổi Thêm sức xuống, và các em được thêm sức vào khoảng 7 tuổi, vài tháng trước khi rước lễ lần đầu.
Sau công đồng Vaticanô II, khuynh hướng của nhiều giám mục là nâng tuổi lãnh bí tích Thêm sức lên (và kể cả sau khi rước lễ lần đầu), với lý do là để các ứng sinh học hỏi giáo lý kỹ lưỡng hơn. Sách Nghi thức Thêm sức (1971, số 11) và Bộ Giáo luật (1983, đ. 891), mặc dù khẳng định rằng tuổi lãnh bí tích là vào khoảng 7 tuổi, nhưng vẫn để cho các Hội đồng giám mục quyền được ấn định tuổi cao hơn nếu xét thấy cần thời gian cân xứng để chuẩn bị cho các ứng sinh[22].
Bên Tây phương, vào buổi đầu, các ấu nhi được thêm sức cùng lúc lãnh bí tích Rửa tội cũng giống như bên Đông phương. Đến thế kỷ IV, mới bắt đầu tách ra: các em bé phải chờ đến khi nào Giám mục đến kinh lý giáo xứ thì mới được thêm sức. Qua thời Trung cổ, công đồng Latêranô IV (năm 1215) buộc phải xưng tội rước lễ ít là mỗi năm một lần kể từ khi người tín hữu đến tuổi khôn (khoảng chừng 7 tuổi). Kể từ đó, các em được thêm sức (trước khi rước lễ) vào khoảng 7 tuổi.
Sang thế kỷ XVII và XVIII, theo tinh thần công đồng Trentô, trước khi lãnh bí tích, các ứng sinh phải theo học lớp giáo lý. Việc học giáo lý bắt đầu vào khoảng 7 tuổi. Qua thế kỷ XIX, ở nhiều nước Trung Âu, tuổi lãnh bí tích Thêm sức được tăng lên, với lý do là các em cần hiểu rõ ý nghĩa của bí tích, và nếu cần thì có thể được thêm sức sau khi rước lễ. Đây cũng là khuynh hướng bên Pháp đã có từ thế kỷ XVIII, nơi mà các em được thêm sức kể cả sau khi rước lễ lần đầu, nghĩa là chừng độ 11-12 tuổi. Đang khi đó, ở Tây Ban Nha và các lãnh thổ thuộc địa (Mỹ châu Latinh, Philippin), bí tích Thêm sức được ban cho các em từ khi còn ấu thơ, trước tuổi sử dụng trí khôn.
Năm 1910, ĐTC Piô X, (với Sắc lệnh Quamvis singularis), quyết định rằng tuổi để rước lễ vỡ lòng là tuổi khôn, tuy rẳng điều này không ảnh hưởng đến tuổi thêm sức. Trên thực tế, Bộ Giáo luật 1917 nói đến tập quán ban phép Thêm sức cho các em vào khoảng 7 tuổi (đ. 788). Năm 1932, Thánh Bộ các bí tích tuyên bố rằng các em bé nên lãnh bí tích Thêm sức trước khi rước lễ lần đầu. Văn kiện này đã gây ra tác dụng là nhiều giáo phận bên Pháp đã hạ tuổi Thêm sức xuống, và các em được thêm sức vào khoảng 7 tuổi, vài tháng trước khi rước lễ lần đầu.
Sau công đồng Vaticanô II, khuynh hướng của nhiều giám mục là nâng tuổi lãnh bí tích Thêm sức lên (và kể cả sau khi rước lễ lần đầu), với lý do là để các ứng sinh học hỏi giáo lý kỹ lưỡng hơn. Sách Nghi thức Thêm sức (1971, số 11) và Bộ Giáo luật (1983, đ. 891), mặc dù khẳng định rằng tuổi lãnh bí tích là vào khoảng 7 tuổi, nhưng vẫn để cho các Hội đồng giám mục quyền được ấn định tuổi cao hơn nếu xét thấy cần thời gian cân xứng để chuẩn bị cho các ứng sinh[22].
b) Suy tư
Tiếp theo những quy định vừa kể, chúng ta thấy có hai lập trường khác nhau giữa các nhà thần học mục và các hội đồng giám mục.
[i] Một bên, chủ trương trở về với tập tục cổ truyền (và cũng là ý định của Bộ Giáo luật), nghĩa là cho các em lãnh bí tích Thêm sức vào 7 tuổi. Điều này có lợi điểm là duy trì thứ tự giữa ba bí tích khai tâm (Rửa tội-Thêm sức-Rước Lễ). Trên thực tế, hoặc là các em được thêm sức trước khi rước lễ lần đầu, hoặc là được thêm sức vào chính lúc rước lễ lần đầu.
[ii] Một bên chủ trương nâng cao tuổi lãnh bí tích Thêm sức. Lý do là cần chuẩn bị các em kỹ lưỡng hơn về ơn gọi và sứ vụ Kitô hữu. Khi lãnh bí tích Thêm sức, các em cam kết sẽ tham gia vào sứ vụ của Giáo hội là làm chứng cho Đức Kitô. Điều này đỏi hỏi các em trưởng thành hơn về tâm lý cũng như về đức tin. Trên thực tế, nếu các em đã lãnh bí tích Thêm sức trước hoặc cùng với lúc rước lễ lần đầu, thì các em sẽ không còn theo học các lớp giáo lý nữa.
Chúng ta thấy bên nào cũng có lý. Cần thêm rằng, theo lập trường thứ nhất, tuy người lãnh bí tích Thêm sức phải “trưởng thành” trong đức tin, nhưng đừng nên hiểu từ này theo nghĩa thuần túy tâm lý. Sự “trưởng thành” ở đây tiên vàn phải hiểu về “ân huệ của Thiên Chúa”. Dĩ nhiên, nếu ứng viên lãnh các bí tích khai tâm là người lớn, thì họ cần được chuẩn bị xứng đáng qua việc cắt đứt những ngăn trở và sẵn sàng hợp tác với ơn thánh. Xem ra đây cũng là quan điểm của Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo nói ở số 1308:
Tiếp theo những quy định vừa kể, chúng ta thấy có hai lập trường khác nhau giữa các nhà thần học mục và các hội đồng giám mục.
[i] Một bên, chủ trương trở về với tập tục cổ truyền (và cũng là ý định của Bộ Giáo luật), nghĩa là cho các em lãnh bí tích Thêm sức vào 7 tuổi. Điều này có lợi điểm là duy trì thứ tự giữa ba bí tích khai tâm (Rửa tội-Thêm sức-Rước Lễ). Trên thực tế, hoặc là các em được thêm sức trước khi rước lễ lần đầu, hoặc là được thêm sức vào chính lúc rước lễ lần đầu.
[ii] Một bên chủ trương nâng cao tuổi lãnh bí tích Thêm sức. Lý do là cần chuẩn bị các em kỹ lưỡng hơn về ơn gọi và sứ vụ Kitô hữu. Khi lãnh bí tích Thêm sức, các em cam kết sẽ tham gia vào sứ vụ của Giáo hội là làm chứng cho Đức Kitô. Điều này đỏi hỏi các em trưởng thành hơn về tâm lý cũng như về đức tin. Trên thực tế, nếu các em đã lãnh bí tích Thêm sức trước hoặc cùng với lúc rước lễ lần đầu, thì các em sẽ không còn theo học các lớp giáo lý nữa.
Chúng ta thấy bên nào cũng có lý. Cần thêm rằng, theo lập trường thứ nhất, tuy người lãnh bí tích Thêm sức phải “trưởng thành” trong đức tin, nhưng đừng nên hiểu từ này theo nghĩa thuần túy tâm lý. Sự “trưởng thành” ở đây tiên vàn phải hiểu về “ân huệ của Thiên Chúa”. Dĩ nhiên, nếu ứng viên lãnh các bí tích khai tâm là người lớn, thì họ cần được chuẩn bị xứng đáng qua việc cắt đứt những ngăn trở và sẵn sàng hợp tác với ơn thánh. Xem ra đây cũng là quan điểm của Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo nói ở số 1308:
Nếu đôi khi chúng ta gọi bí tích Thêm sức là “bí tích của sự trưởng thành Kitô giáo”, thì đừng vì vậy mà lẫn lộn tuổi trưởng thành về đức tin với tuổi trưởng thành của sự tăng trưởng tự nhiên; cũng đừng quên rằng ân sủng của bí tích Rửa tội là một ân sủng của sự tuyển chọn nhưng không (của Thiên Chúa) chứ không do công trạng (của chúng ta), nó không cần một “xác nhận” nào để trở thành có hiệu lực. Thánh Tôma nhắc nhớ điều đó: “Tuổi tác phần xác không làm hại đến linh hồn. Bởi đó cả trong tuổi thơ, con người cũng có thể đạt sự trọn hảo của tuổi tinh thần: về điều này sách Khôn Ngoan dạy: ‘Tuổi thọ đáng kính không phải bởi sống lâu, cũng không do số tuổi’ (Kn 4,8). Vì vậy, có nhiều trẻ em, nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần mà chúng đã lãnh nhận, đã anh dũng chiến đấu đến đổ máu vì Đức Kitô.[23]
2. Vai trò của cộng đoàn trong việc chuẩn bị các ứng sinh
Sách Nghi thức 1971 lưu ý rằng việc chuẩn bị các ứng sinh lãnh bí tích Thêm sức không chỉ là nhiệm vụ của các mục tử mà còn là của cộng đoàn Kitô hữu và của các cha mẹ nữa (số 3).
Đối với những người lớn chuẩn bị lãnh bí tích khai tâm, họ nhận được sự quan tâm của cộng đoàn qua việc tham gia tiệm tiến vào phụng vụ, cũng như việc đồng hành của các giáo lý viên.
Đối với các trẻ em, các cha mẹ có nhiệm vụ lo lắng cho các em được tham gia các lớp giáo lý, nhưng đồng thời họ cũng chuẩn bị cho con em bằng cách nêu gương sáng sống đời Kitô hữu, cách riêng trong việc tham dự phụng vụ. Ngoài ra, các người đỡ đầu cũng có bổn phận trong lãnh vực này, nhưng tiếc rằng ngày nay, vai trò “đỡ đầu” thường chỉ có tính cách danh dự! Trong tiếng Việt, từ “đỡ đầu” có lẽ ám chỉ việc họ nâng đầu của người được rửa tội đang khi tác viên đổ nước. Trong lịch sử Giáo hội, người đỡ đầu được gọi là sponsor, nghĩa là “bảo lãnh”, xét về nhiều phương diện. Thứ nhất, thời xưa, vào thời cấm đạo, người bảo lãnh giới thiệu với cộng đoàn một ứng viên, bảo đảm rằng đương sự thực tâm theo đạo, chứ không phải người được cài vào để do thám sinh hoạt của cộng đoàn. Thứ hai, người bảo lãnh làm chứng là ứng viên đã được chuẩn bị đầy đủ để lãnh bí tích; dĩ nhiên, chính người bảo lãnh đã đảm nhận vai trò huấn luyện cho người dự tòng. Thứ ba, người bảo lãnh còn tiếp tục đồng hành với tân tòng trong đời sống đức tin.
3. Nội dung huấn giáo
Dĩ nhiên, nội dung chính của việc huấn giáo bí tích là đạo lý Công giáo về bí tích cũng như các lễ nghi kèm theo phụng vụ bí tích. Tuy nhiên, cái “cốt lõi” đó cần được thích nghi vào điều kiện tuổi tác của ứng sinh, mà ta tạm phân chia thành ba hoàn cảnh:
a) Các thiếu nhi ở lứa tuổi học đường (tiểu học hay trung học). Các em sẽ nhận lãnh bí tích Thêm sức hoặc trước hoặc sau khi rước lễ lần đầu, tùy quy định của Hội đồng Giám mục.
b) Những người thanh thiếu niên hay người trưởng thành. Họ gia nhập “đoàn dự tòng” và theo dõi chương trình đào tạo theo các nghi thức khai tâm dành cho người lớn.
c) Một hạng người nữa chỉ muốn lãnh bí tích Thêm sức nhằm hoàn tất thủ tục giáo lý để kết hôn.
Hội đồng Giám mục phải lo liệu soạn những chương trình đào tạo cho mỗi hạng vừa nói (Nghi thức Thêm sức số 12). Nên biết là ở nhiều quốc gia, giai đoạn dự tòng kéo dài từ 3 đến 5 năm. Lý do là vì việc huấn giáo không chỉ giới hạn vào việc học thuộc lòng những gì nằm trong sách giáo lý, mà còn phải uốn nắn đời mình theo những yêu sách của Tin Mừng. Điều này được nhắc nhở ở số 1309 của GLCG: “Việc chuẩn bị cho bí tích Thêm sức phải nhắm dẫn đưa Kitô hữu đến sự kết hợp thân mật hơn với Đức Kitô, đến sự kết hợp sống động hơn với Chúa Thánh Thần, với hoạt động của Ngài, với các hồng ân của Ngài, với sự thân thiết trước những mời gọi của Ngài, để họ có thể đảm nhận cách tốt hơn những trách nhiệm tông đồ của đời sống Kitô hữu. Do đó, giáo lý Thêm sức phải cố gắng khơi dậy ý thức mình thuộc về Hội thánh của Chúa Giêsu Kitô, Hội thánh phổ quát cũng như cộng đoàn giáo xứ. Cộng đoàn này có trách nhiệm đặc biệt trong việc chuẩn bị cho những người sắp chịu phép Thêm sức”.
Kết luận
Để kết luận, chúng ta có thể tóm lại vài điểm thực hành về mối tương quan giữa bí tích Thêm sức và cuộc sống Kitô hữu.
Trong các buổi học giáo lý, một câu hỏi thường được nêu lên là: bí tích Thêm sức có thêm điều gì mới mẻ so với bí tích Rửa tội không? Có lẽ vấn nạn này được nêu lên khi chúng ta quan niệm bí tích Thêm sức như một thực tại khác biệt với bí tích Rửa tội (chẳng hạn như khi so sánh bí tích Truyền Chức Thánh với bí tích Hôn Phối). Thần học ngày nay muốn nhìn bí tích Thêm sức trong sự liên tục giữa ba bí tích Khai tâm. Dưới viễn ảnh này, bí tích Thêm sức đến “kiện toàn” (perficere) điều đã được nhận lãnh trong bí tích Rửa tội [24].
Trong bí tích Rửa tội , người tín hữu đã nhận lãnh các ân sủng và ân huệ Thánh Thần, ví như các nén bạc được Chúa trao. Bí tích Thêm sức có thể ví như lời mời gọi người tín hữu hãy tăng trưởng trong đời sống Kitô hữu, hãy đáp lại những ân huệ đã nhận lãnh, hãy sống trọn vẹn những yêu sách của mầu nhiệm được cử hành. Nói khác đi, bí tích Thêm sức kêu gọi người tín hữu hãy sống trọn vẹn ơn gọi của mình, mà ta có thể vạch ra vài nét chính như sau:
1. Sống và hành động theo Thánh Thần
Thánh Thần được trút đổ trên người tín hữu để ghi dấu trên họ một cách đặc biệt như là “con người của Thần Khí”, thúc đẩy họ sống và hành động theo Thánh Thần (x. Gl 5,15.15). Vì thế họ hãy để Thánh Thần chiếm đoạt họ và dẫn dắt họ trên đường đời. Điều này có nghĩa là họ hãy ngoan ngoãn, hợp tác với những sự thúc giục của Ngài (x. Rm 8,14; Gl 5,18). Họ hãy để cho Thánh Thần uốn nắn họ ngõ hầu càng ngày càng trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô hơn. Để được như vậy, họ cần cố gắng sống mầu nhiệm của Đức Kitô, cách riêng qua đời sống cầu nguyện, nhờ đó, họ cũng cảm nghiệm được mối tương quan thảo hiếu với Chúa Cha.
2. Lãnh trách nhiệm đối với cộng đoàn Hội thánh và xã hội
Trong bí tích Thêm sức, Thánh Thần củng cố mối dây liên kết người tín hữu với Hội thánh, vì thế họ hãy để cho Ngài dẫn dắt trong việc tham gia sâu đậm hơn vào đời sống và sứ mạng của Hội thánh.
Thánh Tôma Aquinô ví hành động của Thánh Thần với việc đạt đến tuổi trưởng thành (ad perfectam aetatem)[25], và lý giải như thế này. Người được rửa tội ví được như ấu nhi, chỉ sống cho mình; đến khi lãnh bí tích Thêm sức, họ bắt đầu cộng tác với người khác. Điều này có thể hiểu như là lãnh trách nhiệm trong cuộc sống của cộng đoàn, cộng đoàn Giáo hội và cũng như cộng đoàn xã hội. Ta cũng có thể hiểu như là đem các đặc sủng mà Thánh Thần đã ban cho mình để phục vụ cộng đoàn, đảm nhận các công tác và chức vụ hữu ích cho việc xây dựng và canh tân Hội thánh (xc. LG 12).
Trong bối cảnh ấy, ta có thể hiểu được vì sao công đồng Vaticanô II nhấn mạnh rằng do bí tích Thêm sức, người tín hữu được đặc cử thi hành sứ vụ tông đồ của Hội thánh (xc. AA 2-3; LG 33). Thật vậy, họ nhận được sức mạnh đặc biệt của Thánh Thần để làm chứng tá cho Đức Kitô (LG 11), đặc biệt bằng đời sống và gương sáng của đức tin, đức cậy và đức mến (LG 31). Công đồng còn dùng một lối nói khác để diễn tả sự tham gia vào đời sống của Hội thánh qua việc sống sâu đậm ba chức vụ tư tế - ngôn sứ - vương đế : qua chức vụ tư tế, các tín hữu tham gia tích cực vào phụng vụ của Hội thánh và biến cuộc đời thành hy lễ thiêng liêng dâng lên Thiên Chúa; qua chức vụ ngôn sứ, họ có nhiệm vụ quảng bá và bảo vệ đức tin; qua chức vụ vương đế, họ được mời gọi sống đức ái qua việc phục vụ anh chị em cũng như thấm nhuần tinh thần Tin Mừng vào trần gian.
3. Sức mạnh kiên trì
Các sách giáo lý thường nói đến “sức mạnh đặc biệt của Thánh Thần” được ban khi lãnh bí tích Thêm sức. Chúng ta có thể hiểu “sức mạnh” theo nhiều nghĩa. Nghĩa đơn giản hơn cả là sức mạnh hoặc lòng can đảm để sống ơn gọi làm chứng tá cho Tin Mừng. Theo một nghĩa sâu xa hơn nữa, thần học nói đến “ấn tích”, nghĩa là một dấu chỉ không thể xóa nhòa được in vào linh hồn. Điều này có nghĩa là Thiên Chúa “cam đoan” sẽ bảo vệ người tín hữu. Đối lại, người tín hữu cũng cam kết kiên trì với ân huệ đã nhận lãnh. Lời khuyên mà thánh Phaolô nhắn nhủ ông Timothê phần nào cũng có thể áp dụng cho những người đã lãnh ân huệ Thánh Linh: “Tôi nhắc anh phải khơi dậy ân huệ của Thiên Chúa mà anh đã nhận được qua việc đặt tay” (2 Tm 1,6). Chúng ta cần phải khơi dậy ân huệ đã nhận, qua việc tưởng nhớ và kiên trì trong đời sống và sứ vụ của người Kitô hữu.





