VIỆC CỬ HÀNH BÍ TÍCH THÊM SỨC : PHỤNG VỤ VÀ GIÁO LUẬT

Thời sự Thần học - Số 104, tháng 05/2024, tr. 58-87

@ Tsth biên tập

Bài này gồm hai phần: phần thứ nhất trình bày nghi thức cử hành bí tích sau công đồng Vaticanô II; phần thứ hai trình bày những quy luật của Giáo hội Latinh 1983.
I. Nghi thức cử hành (1971). Giải thích các yếu tố của việc cử hành: 
  A. Những nghi thức mở đầu. 
  B. Phụng vụ Lời Chúa. 
  C. Nghi thức cử hành bí tích. 
  D. Phụng vụ Thánh Thể. 
  E. Nhận xét: những điểm mới. 
Nguồn: J. A. Abad Ibáñez - M. Garrido Bonaño, O.S.B., Iniciación a la liturgia de la Iglesia, Ed. Palabra Madrid, 2a ed. 1997, p.199-237.
II. Bộ Giáo luật 1983: 
  A. Bố cục. 
  B. Nhận xét. 
Nguồn: Libero Gerosa, El derecho de la Iglesia, EDICEP C.B., Madrid, 1998.

I. Nghi thức cử hành bí tích Thêm sức (1971)


Theo ước nguyện của công đồng Vaticanô II (Hiến chế về Phụng vụ, số 71 và 59), nghi thức cử hành bí tích Thêm sức (Ordo confirmationis) đã được duyệt lại và được ban hành ngày 22 tháng 8 năm 1971. Trước đó một tuần lễ (ngày 15 tháng 8), ĐTC Phaolô VI đã ban hành tông hiến Divinae consortium naturae, trong đó ngài ấn định chất thể và mô thể của bí tích[1].

Tiếp theo mục “Những điều cần biết trước” (praenotanda), sách được chia làm bốn chương chính. Hai chương đầu mô tả nghi thức trong và ngoài Thánh Lễ. Chương ba mô tả nghi thức do một linh mục chủ sự, nhưng thực ra chỉ quy chiếu vào những chương trước, bởi vì không có gì khác biệt. Chương bốn đề cập đến trường hợp nguy tử.

Khung cảnh lý tưởng là bí tích Thêm sức được cử hành trong Thánh Lễ, nhằm nêu bật mối liên hệ giữa hai bí tích Khai tâm. Cấu trúc của một buổi cử hành diễn ra như sau:
  1. Các nghi thức mở đầu như thường lệ.
  2. Phụng vụ Lời Chúa.
  3. Cử hành Bí tích: a) Giới thiệu các ứng viên; b) Bài giảng; c) Lặp lại lời cam kết rửa tội; d) Đặt tay và lời nguyện; e) Xức dầu với công thức; f) Lời nguyện các tín hữu.
  4. Phụng vụ Thánh Thể, như thường lệ.
  5. Nghi thức kết thúc.

Nếu bí tích được cử hành ngoài Thánh Lễ, thì cấu trúc như sau:
  1. Nghi thức mở đầu (Bài ca, lời chào, lời cầu nguyện).
  2. Phụng vụ Lời Chúa với 3 bài đọc.
  3. Cử hành bí tích (cũng giống như trên). Sau lời nguyện các tín hữu, đọc kinh Lạy Cha.
  4. Giải tán.

Khung cảnh lý tưởng của buổi cử hành là Thánh Lễ, như công đồng Vaticanô II đã mong ước (Hiến chế về Phụng vụ, số 71), dựa trên nhiều lý do: thần học, lịch sử. Về thần học, điều này nhằm nêu bật mối liên hệ giữa bí tích Thêm sức với toàn thể tiến trình khai tâm Kitô giáo. Về lịch sử, trong những thế kỷ đầu tiên, bí tích Thêm sức được ban cho các nhi đồng cũng như người lớn, trong khung cảnh việc cử hành các bí tích Khai tâm (theo thứ tự: Rửa tội – Thêm sức – Thánh Thể). Vì lý do đó, sách Nghi thức đã soạn một bài lễ riêng cho dịp này (và có thể sử dụng quanh năm, trừ các Chúa nhật mùa Vọng, mùa Chay, mùa Phục sinh, các lễ trọng, thứ tư Lễ tro và Tuần thánh).

Sau đây, chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa của các yếu tố của nghi thức, xoay quanh 5 điểm sau: (1) Những nghi thức mở đầu: (2) Phụng vụ Lời Chúa, (3) Nghi thức cử hành bí tích, (4) Phụng vụ Thánh Thể, (5) Những điểm mới.

A. Các nghi thức mở đầu


Các nghi thức mở đầu gồm: việc tiếp đón Giám mục, dẫn nhập, ca nhập lễ, lời nguyện

1. Tiếp đón Giám mục

Giám mục là đại diện của Chúa Kitô và đứng đầu Giáo hội địa phương. Vì là người kế vị của các thánh Tông đồ và thành viên của Tập đoàn Giám mục, ngài là tác viên không những “thông thường” (ordinarius) mà còn là “nguyên ủy” (originarius) của bí tích Thêm sức. Nhờ tác vụ của Giám mục mà mầu nhiệm lễ Ngũ tuần được trở nên hiện thực và các tín hữu nhận lãnh Thánh Thần. Vì lý do đó, việc tiếp đón Giám mục mang tầm quan trọng, và giúp cho các ứng viên bí tích nhìn thấy công cụ qua đó Chúa Kitô thông truyền Thánh Thần cho mình.

2. Dẫn nhập

Lời dẫn nhập mở đầu nhằm giới thiệu phép Thêm sức như là bí tích của Hội thánh được đại diện qua cộng đoàn tín hữu đang tụ họp; như là một trong các bí tích Khai tâm và như là bí tích trao ban Thánh Thần do Chúa Kitô qua tác viên của Người, nhằm giúp người tín hữu được tăng trưởng và trưởng thành.

3. Ca nhập lễ

Bài ca nhập lễ, được trích hoặc từ Ed 36,25-26 hoặc Rm 5,5; 8,11, đều coi phép Thêm sức như là bí tích trao ban Thánh Thần.

4. Lời tổng nguyện

Nghi thức trình bày bốn lời nguyện, tuy với những ý tưởng thần học như nhau, nhưng dưới những viễn cảnh khác biệt. Đối với lời nguyện thứ nhất, việc trao ban Thánh Thần là một thực tại thường xuyên biến đổi chúng ta thành những đền thờ vinh quang của Người. Lời nguyện thứ hai nhìn việc trao ban Thánh Thần như là sự hoàn tất một lời hứa của Thiên Chúa và biến đổi người tín hữu thành chứng nhân can đảm cho Tin Mừng Chúa Kitô. Trong lời nguyện thứ ba, việc trao ban Thánh Thần mang chiều kích Giáo hội bởi vì giúp cho Giáo hội đạt tới sự viên mãn của mình. Sau cùng, lời nguyện thứ tư, gợi hứng từ Tin Mừng Gioan, liên kết việc trao ban Thánh Thần với việc hiểu biết sâu đậm mầu nhiệm Chúa Kitô.

a) Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, xin Chúa cử Thánh Thần đến ngự trong tâm hồn chúng con, để Người biến đổi chúng con thành đền thờ vinh quang của Người. Chúng con cầu xin…

b) Lạy Thiên Chúa là Cha nhân từ, xin thực hiện lời Chúa đã hứa, mà sai Thánh Thần đến với chúng con. Chính Người sẽ ban cho chúng con sức mạnh, để trước mặt người thế, chúng con trở nên nhân chứng của Tin Mừng. Chúng con cầu xin…

c) Lạy Chúa, xin ban Thánh Thần Chúa cho chúng con. Chính Người sẽ giúp chúng con bước đi vững vàng trong đức tin duy nhất. Chính Người sẽ liên kết chúng con trong tình bác ái ngày thêm sống động. Nhờ vậy, Hội Thánh Chúa sẽ phát triển không ngừng, và đạt tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô, là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị…

d) Lạy Chúa là nguồn mọi sự thánh thiện, xin gửi Thánh Thần chân lý đến soi sáng tâm hồn chúng con. Chính Người sẽ dẫn đưa chúng con đến chân lý toàn vẹn theo lời hứa của Đức Kitô, là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị…

Nên ghi nhận là các lời nguyện phụng vụ luôn hướng lên Chúa Cha (nhờ Đức Kitô trong sự hiệp nhất của Thánh Thần) chứ không hướng trực tiếp lên Thánh Thần.

B. Phụng vụ Lời Chúa


Mục tiêu của phụng vụ Lời Chúa là hâm nóng đức tin của cộng đoàn vào ân huệ Thánh Thần mà các ứng viên sắp lãnh nhận, và móc nối nghi thức bí tích với chính bản thân của Đức Kitô Phục sinh. Vì thế khi chọn các bài đọc, không nên chỉ nghĩ đến các ứng viên bí tích nhưng cũng cần nhắm đến các tín hữu khác, nhất là các cha mẹ và người đỡ đầu. Sách các bài đọc trình bày một kho tàng phong phú để đạt đến mục tiêu đó, với 5 bản văn Cựu Ước, 12 bản văn của sách Công vụ và thánh Phaolô, 12 bản văn Tin Mừng Nhất lãm và Gioan.

1. Cựu Ước (Bài đọc I)

Trong số các bản văn Cựu Ước, có ba đoạn trích từ Isaia (Is 11,1-4; 42, 1-3; 61, l-3a. 6a. 8b.9).

- Đoạn văn thứ nhất nói về Đấng Mêsia Vua, được Thần Khí Chúa đến để thực hiện nhiệm vụ của vua Đavít mới. Bí tích Thêm sức là thời đặc biệt Thần Khí Chúa xuống trên các tín hữu để thông ban các ân huệ.

- Đoạn văn thứ hai nói đến Người Tôi trung của Giavê thi hành sứ vụ ngôn sứ nhờ có Thần Khí Chúa. Bí tích Thêm sức thông ban cũng chính Thần Khí ấy.

- Đoạn văn thứ ba là lời tiên báo về Đức Kitô (x. Lc 4,16-21) như là kẻ được Thần Khí Chúa xức dầu để loan báo một cuộc giải phóng mới và vĩnh viễn dành cho những người nghèo của Thiên Chúa. Nhờ bí tích Thêm sức, người tín hữu được xức dầu bởi Thần Khí ấy, gắn chặt họ với sứ vụ của Ngài, nghĩa là liên kết họ chặt chẽ với Hội thánh.

Hai đoạn văn của Edêkiel (30, 24-28) và Gioel (2, 23a-26-30a) bổ túc thêm tư tưởng Cựu Ước. Edêkiel loan báo cuộc phục hưng dân Israel, đã bị lưu đày vì những phản nghịch của mình, nhờ những cuộc can thiệp đặc biệt của Thiên Chúa, trong đó có việc trao ban “một Thần Khí mới” nghĩa là Thần Khí của Thiên Chúa. Đó chính là Thần Khí được nhận lãnh trong bí tích Thêm sức, mang lại sự canh tân cá nhân cũng như cộng đoàn. Đoạn văn của Gioel loan báo rằng Thần Khí không chỉ dành riêng cho các ngôn sứ, bởi toàn thể Dân Thiên Chúa sẽ trở thành ngôn sứ, nhờ Thần Khí được ban cho tất cả mọi người. Sách Tông đồ Công vụ (2,16 tt) nhận thấy lời tiên báo ấy được thực hiện vào lễ Ngũ tuần. Vì thế, bí tích Thêm sức nối tiếp và hiện thực biến cố Ngũ tuần.

2. Tông đồ Công vụ và các thư của thánh Phaolô (Bài đọc II)

Sách bài đọc đề ra 5 đoạn của Tông đồ Công vụ và 7 đoạn của thánh Phaolô.

Các đoạn văn Tông đồ Công vụ coi bí tích Thêm sức như là bí tích trao ban Thánh Thần. Thánh Thần được trao ban cho các tín hữu để họ làm chứng (Cv 1,3-8) và củng cố ơn gọi Kitô hữu nơi những người đã được rửa tội (Cv 8,1.4.14-17). Hội thánh đã lãnh nhận Thánh Thần từ Đức Kitô, lại trao Thánh Thần cho tất cả mọi người được rửa tội (Cv 2,l-6.14.22b-23.32-33) nhờ việc đặt tay (Cv 19,1b-6a). Đôi khi Thánh Thần được thông ban trước khi người ta được rửa tội, như trường hợp ông Corneliô, để vạch cho Hội thánh biết ơn gọi phổ quát của mình (Cv 10,1.33-34.37-44).

Các thư thánh Phaolô coi việc trao ban Thánh Thần nhằm sống đức mến (Rm 4,1-2.5-8), tình con cái với Thiên Chúa (Rm 8,14-17), sự hiệp thông với Thiên Chúa và tình huynh đệ Kitô giáo (Rm 8, 26-27), sự trưởng thành trong đức tin và luân lý Kitô giáo (Gl 5,16-17.22-23a.24), và sự tự do có trách nhiệm và hành xử các đặc sủng (Ep 1,3a.4a.13-19a). Cũng chính Thánh Thần là Đấng ban các ân huệ nhằm giúp xây dựng Hội thánh (1 Cr 12,4-13) và phối hợp sự đa dạng và hợp nhất của các đặc sủng (Ep 4,1-6).

3. Tin Mừng

Các bài đọc Tin Mừng được phân phối như sau: 3 của Mátthêu, 1 của Máccô, 3 của Luca và 5 của Gioan.

Theo các bài đọc của Mátthêu, người được Thêm sức phải trở thành chứng nhân tỏa lan Thánh Linh của các phúc thật (Mt 5,l-12a), kể cả việc hy sinh mạng sống mình (Mt 16,24-27). Phép Thêm sức cũng là bí tích của những hoa trái Thánh Linh (Mt 25,14-30).

Đoạn văn của Máccô (1,9-11) thuật lại việc Đức Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan, và sau đó được xức dầu chính thức, tỏ ra như kẻ sở hữu Thánh Thần. Bản văn này cũng như bản văn về lễ Ngũ tuần được coi như nền tảng của bí tích Thêm sức, xét như là Thánh Thần được trao ban sau khi lãnh phép Rửa tội.

Các đoạn văn của Luca coi phép Thêm sức như là bí tích của việc trao ban Thánh Thần ngõ hầu các tín hữu thực hiện sứ vụ ngôn sứ (Lc 4,16-22) và chứng nhân cho Lời Chúa bằng đời sống và lời nói (Lc 8,4-10a.11b.15). Phép Thêm sức cũng được coi như bí tích của việc mặc khải sung mãn của Chúa Cha và Chúa Con, nhờ việc trao ban Thánh Thần do hai vị thực hiện (Lc 10,21-24).

Đối với thánh Gioan, Chúa Kitô thông ban Thánh Thần, là hoa trái của việc phục sinh cho những kẻ tin vào Người (Ga 7, 37b-39), ngõ hầu họ hiểu biết chân lý và làm chứng (Ga 14,15-17) trước mặt thế giới (Ga 15, 18-21), và ngõ hầu họ nhận ánh sáng và sức mạnh để cứu rỗi bản thân và Hội thánh (Ga 14, 23-26) và có thể biến đổi thế giới (Ga 16, 5b-7.12.13a).

C. Cử hành bí tích Thêm sức


Phần này gồm các mục sau đây: 1) Giới thiệu các ứng viên; 2) Bài giảng; 3) Lặp lại lời cam kết rửa tội; 4) Đặt tay và lời nguyện; 5) Xức dầu với công thức; 6) Lời nguyện các tín hữu.

1. Giới thiệu các ứng viên

Sau bài Tin Mừng, các ứng viên được giới thiệu lên Giám mục. Nếu hoàn cảnh cho phép, nên xướng tên từng người (trừ khi nào đông quá); ứng viên tiến lên cung thánh, và nếu được thì người đỡ đầu tháp tùng. Cha xứ hoặc giáo lý viên chứng thực rằng các ứng viên đã được chuẩn bị đầy đủ để lãnh bí tích.

2. Bài giảng

Tiếp theo là bài giảng của Giám mục nhằm chuẩn bị các ứng viên, cha mẹ, người đỡ đầu và cộng đoàn hiểu rõ hơn ý nghĩa sâu xa của bí tích Thêm sức và tham gia cách tích cực và hữu ích. Bài giảng có ba điểm quy chiếu: các bài đọc vừa công bố, những người mà bài đọc nhắm tới, và chuyển tiếp từ lời vừa nghe sang nghi thức sắp cử hành.

Nghi thức trình bày mẫu văn bài giảng với nội dung rất súc tích, chứa đựng toát lược thần học phụng vụ của bí tích, gồm gồm 5 phần: (a) Thánh Thần với các tông đồ; (b) Thánh Thần với các người kế vị các Tông đồ; (c) việc thông ban Thánh Thần trong bí tích Thêm sức; (d) giải thích ý nghĩa của phần trọng tâm của nghi thức; (e) chuẩn bị lặp lại lời cam kết rửa tội.

Dĩ nhiên là Giám mục không nên “đọc” bài giảng này từ đầu đến cuối, nhưng tìm cách thích nghi với cộng đồng phụng vụ, dựa trên những bài đọc Sách Thánh để quảng diễn đề tài ân huệ Thánh Thần, hoặc tương quan giữa lễ Ngũ tuần và bí tích Thêm sức, hoặc tương quan giữa bí tích Thêm sức với bí tích Rửa tội và Thánh Thể, hoặc giải thích các cử chỉ của lễ nghi (đặt tay, xức dầu). Dù sao, nên kết thúc bài giảng với đôi lời về liên hệ giữa bí tích Thêm sức và bí tích Rửa tội để dẫn vào nghi thức tiếp theo: lặp lại lời cam kết khi rửa tội.

3. Lặp lại lời cam kết khi rửa tội

Hiến chế về Phụng vụ của công đồng Vaticanô II (số 71) đã minh thị yêu cầu rằng cần xen vào nghi thức Thêm sức việc lặp lại lời cam kết khi rửa tội và điều này cần thực hiện trước khi ban phép Thêm sức. Điều này nhằm nêu bật tương quan giữa bí tích Thêm sức với các bí tích Khai tâm Kitô giáo. Tuy mỗi bí tích có ý nghĩa riêng của nó, nhưng bí tích Thêm sức vốn được coi như là bổ túc cho bí tích Rửa tội, theo như tục ngữ: Baptismum confirmatione perficitur.

Sách Nghi thức đã đề nghị nhiều mô hình cho việc lặp lại lời cam kết: hai mô hình mang tính tổng quát và ba cho từng loại ứng viên (nhi đồng, tráng niên, thanh niên). Mô hình thứ nhất lấy lại nguyên văn lời cam kết lúc rửa tội và khai triển lời tuyên xưng thứ ba dành cho Thánh Thần.

- Các con có từ bỏ ma quỷ, mọi việc và mọi quyến rũ của ma quỷ không?

- Các con có tin kính Thiên Chúa là Cha toàn năng, đấng tạo thành trời đất không?

- Các con có tin kính Đức Giêsu Kitô, Con một Thiên Chúa, Chúa chúng ta, sinh ra bởi Đức trinh nữ Maria, đã chịu khổ hình và mai táng, đã sống lại từ cõi chết và đang ngự bên hữu Chúa Cha không?

- Các con có tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa, Đấng ban sự sống, Đấng mà hôm nay nhờ bí tích Thêm Sức các con sẽ lãnh nhận một cách đặc biệt, như các Tông đồ xưa trong ngày Người Hiện xuống không?

- Các con có tin Hội Thánh Công giáo, tin các Thánh thông công, tin phép tha tội, tin xác sống lại và sự sống vĩnh cửu không?

Đó là đức tin của chúng ta. Đó là đức tin của Hội Thánh. Chúng ta hãnh diện tuyên xưng đức tin ấy trong đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.

Nên lưu ý là trong nghi thức rửa tội, vị chủ sự đặt câu hỏi hướng về cha mẹ hoặc người đỡ đầu. Trong Nghi thức Thêm sức, vị chủ tế hướng về các ứng viên. Tuy nhiên, sau lời tuyên bố cuối cùng (‘Đó là đức tin…’), cha mẹ và cộng đoàn sẽ cùng hưởng ứng và thưa ‘Amen’.

4. Đặt tay

Bên Đông phương, việc đặt tay đã sớm biến mất, và việc xức dầu chrisma được coi như là yếu tố cốt yếu của phép Thêm sức. Trái lại, bên Tây phương hai cử chỉ đặt tay và xức dầu cùng tồn tại với nhau trong một thời gian, và thậm chí kể cả khi việc xức dầu được đưa lên hàng đầu, thì người ta cũng tìm cách giải thích theo nghĩa là bao hàm cả việc đặt tay. Như thế, mặc dù việc đặt tay không còn rõ rệt nữa, nhưng cử chỉ này, bắt nguồn từ các thánh Tông đồ, không bị gạt bỏ mà chỉ đổi dạng.

Trong nghi thức hiện hành, việc đặt tay theo nghĩa cổ điển được duy trì qua việc Giám mục đặt tay trên tất cả các ứng sinh. Tông hiến của ĐTC Phaolô VI nói rằng cử chỉ này tuy không thuộc về bản chất của nghi thức, nhưng là thành phần toàn vẹn của nó và giúp hiểu rõ hơn ý nghĩa của bí tích.

a) Mời gọi và khẩn cầu

Nghi thức đề nghị hai mẫu cho lời mời gọi. Mẫu thứ nhất liên kết lễ Ngũ tuần với bí tích Thêm sức và giải thích ý nghĩa của việc đặt tay theo Kinh Thánh và phụng vụ. Mẫu thứ hai nói đến việc trao ban Thánh Thần qua một cử chỉ đã được thực hiện bởi các Tông đồ thực hiện và giờ đây được tiếp tục bởi các Giám mục.

Chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa Cha toàn năng đoái thương ban tràn đầy Thánh Thần xuống trên những dưỡng tử của Chúa đây, là những kẻ đã được tái sinh vào sự sống vĩnh cửu trong bí tích Rửa Tội, để Chúa Thánh Thần dùng ân huệ dồi dào của người làm cho họ nên vững mạnh và xức dầu làm cho họ nên giống Chúa Kitô Con Thiên Chúa.

b) Cử chỉ đặt tay và lời nguyện

Sau lời mời gọi, Giám mục (và các linh mục trợ giúp ngài trong việc xức dầu, nếu có) sẽ đặt tay trên tất cả các ứng sinh và đọc lời nguyện.

Lời nguyện mang giọng khẩn nài (epiclesis) xin Thiên Chúa Cha đổ tràn bảy ơn Thánh Thần[2] xuống trên những người, nhờ bí tích Thánh Tẩy, đã được rửa sạch tội lỗi và trở nên con cái của Ngài:

Lạy Chúa toàn năng, là Cha Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con, bởi nước và Thánh Thần, Chúa đã giải thoát những người con cái Chúa đây khỏi tội lỗi, và ban cho họ sự sống mới. Xin Chúa sai Thánh Thần Chúa xuống giúp sức và hướng dẫn, và ban cho họ Thần Trí khôn ngoan và thông hiểu, Thần Trí lo liệu và can đảm, Thần Trí suy biết và đạo đức. Xin ban cho những người con này ơn kính sợ Chúa. Nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

5. Xức dầu chrisma

Trong tông hiến Divinae consortium naturae, ĐTC Phaolô VI đã xác định những yếu tố căn bản của bí tích Thêm sức như sau:

Bi tích Thêm Sức được ban qua việc xức dầu chrisma trên trán, được thực hiện qua việc đặt tay, và qua những lời “Accipe signaculum doni Spiritus sancti”. Công thức này vừa diễn tả cử chỉ bên ngoài của việc xức dầu như là ấn tích của việc khai tâm và công hiệu của bí tích, đó là thông ban ân huệ Chúa Thánh Thần.

Như vậy, chất thể của bí tích là việc xức dầu chrisma, và mô thể là công thức diễn tả việc thông ban ân huệ Thánh Thần.

Trên đây chúng tôi đã nói qua sự tiến triển về chất thể, từ việc đặt tay sang việc xức dầu chrisma. Tuy nhiên, việc xức dầu trên trán cũng hàm ý đặt tay trên đầu.

Riêng về công thức bí tích, nên biết là từ thế kỷ XII, công thức đọc lúc xức dầu trên trán với dấu Thánh giá như sau: “Cha làm dấu cho con bằng dấu Thánh giá, và cha thêm sức cho con bằng dầu chrisma cứu độ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (Ứng viên thưa: Amen)[3]. Công thức này không làm rõ công hiệu của bí tích Thêm sức. Vì thế khi duyệt lại sách Nghi thức sau công đồng Vaticanô II, ĐTC Phaolô VI đã quyết định thay đổi và lấy theo công thức bên Đông Phương đã có từ công đồng Constantinopolis I[4], nhằm nêu bật hiệu quả của việc xức dầu là ban Chúa Thánh Thần nhờ tác vụ của Giám mục.

Nên lưu ý là bản dịch Việt ngữ “Hãy lãnh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần” không lột hết được vẻ súc tích của nguyên bản La tinh: “Accipe signaculum doni Spiritus Sancti” (Hãy lãnh nhận ấn tín của hồng ân, tức là Chúa Thánh Thần; hoặc: Hãy nhận lấy ấn tín của Chúa Thánh Thần là hồng ân; hoặc: Hãy nhận lãnh Thánh Thần được ban như hồng ân và ấn tích). Người tín hữu không chỉ lãnh nhận ơn của Chúa Thánh Thần, nhưng lãnh nhận chính Chúa Thánh Thần, là hồng ân được Chúa Cha và Đức Kitô ban cho các tín hữu (Lc 24,49; Cv 1,4). Như vậy, tác động của Chúa Thánh Thần trên các tín hữu được mô tả như là ấn tín và hồng ân.

a) Người đặt ấn tín trên chúng ta. Tư tưởng này -sphragis- bắt nguồn từ Ep 1,13 (“Một khi đã tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần, Đấng Thiên Chúa đã hứa”). Nói chung, từ ngữ này có nghĩa là “xác nhận lời cam kết” trước mặt Thiên Chúa (Rm 4,11) hoặc với Hội thánh (1 Cr 9,2) Thánh Thần niêm phong, củng cố, tăng cường, xác định, hoàn tất điều mà Người đã khởi đầu trong bí tích Rửa tội.

b) Người được trao ban cho chúng ta như hồng ân (tặng phẩm: donum). Tư tưởng này lấy từ Tin Mừng Gioan (14,26); và Tin Mừng Luca (24,49). Thánh Thần được sai đến như hồng ân Chúa ban cho chúng ta; Người là Thánh Thần tình yêu và Thánh Thần chân lý, nhằm giúp cho Giáo hội chu toàn sứ mạng thánh hóa và chứng tá của mình[5]. Khi trao ban Thánh Thần, Chúa Cha yêu thương chúng ta, và nhờ ân huệ này, chúng ta có thể yêu mến Chúa Cha bằng tình yêu con thảo cũng như trong ân huệ ấy, chúng ta có thể yêu mến anh chị em đồng loại bằng tình yêu mà Chúa Cha yêu Chúa Con, và cả hai yêu thương nhân loại.

6. Lời nguyện các tín hữu

Sau khi phần xức dầu thánh đã kết thúc, cộng đoàn đứng lên để dâng lời nguyện các tín hữu. Sách Nghi thức đề nghị hai mẫu, nhưng vẫn để ngỏ cho các mẫu khác được phê chuẩn. Các ý nguyện có thể được xướng lên bởi một phó tế, một tác viên, một người vừa lãnh bí tích hay một người đỡ đầu.

Những ý cầu nguyện nhắm tới những người vừa lãnh bí tích, các cha mẹ và người đỡ đầu của họ, cho Hội thánh hoàn vũ, cho các nhu cầu trên thế giới. Lời dẫn nhập và kết thúc nhắc đến Thánh Thần cũng như gắn kết với lễ Ngũ tuần.

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy khẩn khoản cầu nguyện cùng Chúa Cha toàn năng. Chớ gì lời cầu nguyện của chúng ta được hiệp nhất như chỉ có một đức tin, đức cậy và đức mến, phát xuất từ Chúa Thánh Thần.

- Chúng ta hãy cầu xin Chúa, cho những tôi tớ Chúa, mà Chúa Thánh Thần đã ngự đến làm cho vững mạnh, để họ chắc chắn trong đức tin, và vững bền trong đức ái mà làm chứng cho Chúa Kitô trong cuộc sống hằng ngày.

- Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho cha mẹ và những người đỡ đầu, để khi họ nâng đỡ đức tin những người chịu phép Thêm Sức, họ dùng lời nói và gương lành mà luôn khuyên nhủ những người ấy theo chân Chúa Kitô.

- Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho Hội Thánh, cho Đức Giáo Hoàng T..., Đức Giám Mục T... chúng ta và toàn thể các Đức Giám Mục, để Hội Thánh được Chúa Thánh Thần đoàn tụ trong một đức tin và đức mến, luôn lan rộng và tăng trưởng cho tới ngày Chúa đến.

- Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho toàn thể thế giới, để mọi người cùng có một Đấng Tạo Hoá và một Cha chung, biết nhìn nhận nhau như anh em, không phân biệt chủng tộc hay quốc gia, và thành tâm tìm kiếm nước Thiên Chúa, là sự bình an và vui mừng trong Chúa Thánh Thần.

Lạy Chúa, Chúa đã ban Chúa Thánh Thần cho các Thánh Tông đồ, và cũng muốn nhờ các ngài và những kẻ nối vị các ngài mà ban Chúa Thánh Thần cho toàn thể các tín hữu. Xin Chúa đoái thương nghe lời chúng con cầu nguyện, để giờ đây tuôn đổ xuống tâm hồn các tín hữu ơn Chúa Thánh Thần mà Chúa đã thương thực hiện lúc khởi sự rao giảng Phúc Âm. Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

7. Những nghi thức phụ

Nghi thức hiện hành có nhắc đến vài chi tiết tuy không quan trọng nhưng gắn kết với việc cử hành bí tích, chẳng hạn như: giới thiệu từng ứng viên trước khi lãnh bí tích; xướng tên từng ứng viên lúc xức dầu chrisma; công thức chúc bình an. Việc “vả má’ (hay vuốt má?), được du nhập thời Trung cổ, đã bị loại bỏ.

D. Phụng vụ Thánh Thể


Sau lời nguyện các tín hữu, Thánh Lễ tiếp tục như thường lệ. Sách Lễ đề nghị nhiều mẫu cho lời nguyện tiến lễ và lời nguyện hiệp lễ

1. Lời nguyện tiến lễ

Có 3 mẫu với nội dung tư tưởng gần giống nhau. Mẫu thứ nhất phong phú về thần học hơn cả, nêu bật rằng việc trao ban Thánh Thần là hoa trái của Thập giá, và Thánh Thể là động lực và sức mạnh để chu toàn việc thực hành các lời cam kết trong bí tích Thêm sức.

a) Lạy Chúa, xin mở lượng từ bi chấp nhận lời cầu xin của chúng con là con cái Chúa: Chúa đã cho chúng con nên đồng hình đồng dạng với Con Một Chúa, và sẽ cho chúng con tham dự vào tiệc thánh của Người, thì xin giúp chúng con biết lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần để trở thành những nhân chứng trung kiên.

b) Lạy Chúa, Chúa yêu thương các nghĩa tử Chúa đây, bằng chính tình yêu Chúa dành cho Con Một Chúa. Chúa cũng đã ghi dấu thánh giá trên trán họ và xức dầu ban Thánh Thần cho họ. Họ sẽ hiệp với Đức Kitô để dâng mình cho Chúa. Xin cho họ càng ngày càng biết lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần.

c) Lạy Chúa, xin chấp nhận của lễ Hội Thánh Chúa tiến dâng để cầu cho những người tín hữu vừa đón nhận Thánh Thần của Chúa. Xin cho họ giữ mãi trong tâm hồn các ân huệ Chúa ban, và không ngừng khai thác để phục vụ anh em đồng loại. Nhớ đó họ sẽ đạt tới hạnh phúc muôn đời Thánh Thần đã hứa ban.

2. Lời nguyện hiệp lễ

Sách Nghi thức cũng đề ra ba mẫu cho lời nguyện này, nhấn mạnh đến nghĩa vụ làm chứng tá bằng cuộc sống và lời nói, cũng như tinh thần yêu thương trong cộng đoàn.

a) Lạy Chúa, Chúa đã ban Thánh Thần cho những người Chúa yêu thương đây, và đã cho họ hiệp thông với Mình và Máu Con Một Chúa. Xin cho ân sủng Chúa tồn tại mãi trong họ, và ban cho họ sức mạnh cần thiết khi họ gặp thử thách gian nan. Xin cho họ sống như con cái thảo hiền, làm cho Hội Thánh được vui mừng hoan hỉ. Xin cho họ góp phần xây dựng Hội Thánh trong thế giới hôm nay bằng cách hoạt động theo tinh thần bác ái.

b) Lạy Chúa, Chúa ban cho những người yêu mến Chúa bao ân huệ phong phú của Thánh Thần, và Chúa cũng ban cho họ sự sống dồi dào của Chúa khi cho họ chia sẻ Mình và Máu Thánh Đức Kitô. Nay Chúa đã tăng thêm sức mạnh thiêng liêng cho họ, xin cũng giúp họ sống giữa thế gian như con cái Chúa, những người được mời gọi sống tự do. Xin cho họ đem cả cuộc đời Kitô hữu làm chứng cho Chúa.

c) Lạy Chúa, Chúa đã cho chúng con cùng được chia sẻ một tấm bánh bởi trời. Xin ban Thánh Thần là nguồn mạch tình yêu, giúp chúng con cũng biết tâm đầu ý hợp và chân thành yêu thương nhau.

3. Phép lành trọng thể

Công thức ban phép lành cuối lễ gồm ba phần hướng lên Ba Ngôi Thiên Chúa: xin Chúa Cha ban phúc lành cho những người trở thành nghĩa tử nhờ bí tích Thánh Tẩy; xin Đức Kitô ban phúc lành và ban sức mạnh Thánh Thần như lời đã hứa; xin Thánh Thần liên kết các tín hữu nên một và dẫn đưa đến niềm hoan lạc của Nước Chúa

- Thiên Chúa là Cha toàn năng đã cho anh chị em được tái sinh bởi nước và Thánh Thần, và nhận anh chị em làm nghĩa tử: Xin người ban phúc lành cho anh chị em và giữ gìn anh chị em luôn xứng đáng với tình yêu của người.

- Đức Giêsu Kitô, Con một của Thiên Chúa đã hứa cử Thánh Thần chân lý đến ở cùng Giáo hội: xin Người ban phúc lành cho anh chị em, và ban cho anh chị em sức mạnh của Thánh Thần để anh chị em can đảm và kiên trì tuyên xưng đức tin.

- Chúa Thánh Thần Đấng Bảo Trợ, đã đốt lửa yêu mến trong lòng các tông đồ: xin Người liên kết anh chị em nên một và dẫn đưa anh chị em tới hưởng niềm hoan lạc của nước Thiên Chúa mà không bị vấp ngã trên đường.

E. Nhận xét


Ngoài công thức ban bí tích, chúng tôi muốn nêu bật ba điều mới mẻ trong quyển Nghi thức Thêm sức năm 1971, liên quan đến người lãnh bí tích, tác viên bí tích, người đỡ đầu. (Các số trích dẫn theo “Những điều cần biết trước” - Praenotanda).

1. Người lãnh bí tích

a. Nói chung

Giáo hội chỉ ban bí tích Thêm sức cho những người đã được rửa tội. Điều này nằm trong cấu trúc của các bí tích Khai tâm. Sách Nghi thức muốn bổ túc thêm rằng: để lãnh bí tích Thêm sức, ứng viên là người đã được rửa tội và chưa được thêm sức, và cũng giả thiết là đương sự biết sử dụng trí khôn, sống trong ân sủng, và được chuẩn bị thích đáng, và có khả năng lặp lại các lời cam kết lúc rửa tội (số 12). Điều này được lặp lại trong Bộ Giáo luật 1983 (đ. 889).

b. Các dự tòng

Đối với các dự tòng, ngoài việc tham dự các lớp huấn giáo, còn nên tạo cơ hội để họ tiếp xúc với cộng đoàn hoặc với một vài phần tử để các ứng viên được huấn luyện về việc làm chứng tá trong đời sống Kitô hữu và về hoạt động tông đồ. Điều này được áp dụng cho những người lớn cũng như cho các thiếu nhi đang theo học các lớp giáo lý.

Nếu các ứng viên đang chuẩn bị lãnh bí tích Hôn Phối, thì trên nguyên tắc họ phải được thêm sức trước khi làm lễ cưới; nhưng nếu xét thấy họ chưa được chuẩn bị đúng mức thì Bản quyền sở tại hãy cân nhắc là có nên hoãn lại việc lãnh bí tích Thêm sức sau lễ cưới hay không (số 12).

c. Tuổi

Truyền thống phụng vụ đã chứng kiến nhiều sự thay đổi trải qua thời gian, bên Đông cũng như bên Tây. Bên Tây phương thời xưa, dựa theo sách Trađitio Apostolica, ba bí tích Khai tâm được ban cùng một lúc, dù là người lớn hay là thiếu nhi hay ấu nhi. Thủ tục này được áp dụng khi cả ba bí tích diễn ra trong cùng một buổi cử hành. Đến khi bí tích Thêm sức được tách rời khỏi việc rửa tội (vào thời Trung cổ), các sách Nghi thức (Pontificalis Curiae tk XII) nói đến việc ban bí tích cho các thiếu nhi (infantes), được hiểu là các em bé còn được bế trên tay. Sang thế kỷ XIII-XIV, khuynh hướng chung là dời tuổi lãnh bí tích lên 7 tuổi (tuổi sử dụng trí khôn). Sách Giáo lý Công đồng Trentô cũng như ĐTC Benêđictô XIV chấp nhận quyết định này, viện lẽ rằng đến tuổi ấy, các em cần đến ân sủng để sống các đòi hỏi của người tín hữu là làm chứng cho đạo. ĐTC Lêô XIII, trong thư gửi giám mục Marseilles năm 1894, nhấn mạnh rằng cần lãnh bí tích Thêm sức trước khi rước lễ lần đầu. Bộ giáo luật năm 1917 thu nhận quyết định ấy (đ.788).

Sách Nghi thức sau Công đồng (số 11) chấp nhận tập tục cổ truyền đó, và ấn định rằng những người lớn sẽ được thêm sức và rước lễ đồng thời với việc rửa tội, còn các nhi đồng sẽ được thêm sức vào khoảng 7 tuổi. Tuy nhiên, Sách Nghi thức cũng để cho các Hội đồng Giám mục được ấn định tuổi cao hơn vì lý do mục vụ, nhất là nhằm giúp các em ý thức việc gắn bó chặt chẽ hơn với Đức Kitô.

Bộ Giáo luật 1983 (điều 891) quyết định rằng bí tích Thêm sức được ban vào tuổi khôn, trừ khi Hội đồng Giám mục ấn định cách khác. Thực ra, trong vấn đề này có nhiều ý kiến khác nhau, do những lý do mục vụ, lịch sử. Dưới khía cạnh huấn giáo và mục vụ, nhiều người chủ trương nên dời đến tuổi trưởng thành, khi các em hiểu biết hơn về vai trò làm chứng nhân. Dưới khía cạnh lịch sử, dựa theo truyền thống xa xưa và vẫn còn được duy trì bên Đông phương, người ta cho rằng nên ban bí tích này sớm nhất có thể: Thánh Thần được ban không phải như hệ quả của sự trưởng thành Kitô hữu, nhưng là điều kiện tiên quyết để khám phá chân lý toàn vẹn của mầu nhiệm Đức Kitô, thấm nhuần tinh thần truyền giáo. Xem ra đây cũng là điều được gợi ý ở số 1308 của Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo:

Nếu đôi khi chúng ta gọi bí tích Thêm Sức là “bí tích của sự trưởng thành Kitô giáo”, thì đừng vì vậy mà lẫn lộn tuổi trưởng thành về đức tin với tuổi trưởng thành của sự tăng trưởng tự nhiên; cũng đừng quên rằng ân sủng của bí tích Rửa Tội là một ân sủng của sự tuyển chọn nhưng không (của Thiên Chúa) chứ không do công trạng (của chúng ta), nó không cần một “xác nhận” nào để trở thành có hiệu lực. Thánh Tôma nhắc nhớ điều đó: “Tuổi tác phần xác không làm hại đến linh hồn. Bởi đó cả trong tuổi thơ, con người cũng có thể đạt sự trọn hảo của tuổi tinh thần: về điều này sách Khôn Ngoan dạy: ‘Tuổi thọ đáng kính không phải bởi sống lâu, cũng không do số tuổi’ (Kn 4,8). Vì vậy, có nhiều trẻ em, nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần mà chúng đã lãnh nhận, đã anh dũng chiến đấu đến đổ máu vì Đức Kitô”.

d. Chuẩn bị

Bên cạnh những quy định mang tính cách pháp lý liên quan đến ứng viên lãnh nhận bí tích, Sách Nghi thức (số 3) bày tỏ mối quan tâm không nhỏ đến việc chuẩn bị tinh thần cho họ, qua việc vạch ra những mục tiêu và những người có trách nhiệm.

- Mục tiêu là nhằm chuẩn bị cho ứng viện nhận lãnh bí tích được nhiều hoa trái. Cụ thể, đối với các thiếu niên, việc chuẩn bị này nhằm (i) tăng thêm tinh thần đức tin; (ii) giúp các em gắn bó thân mật với Đức Kitô để trở thành chứng nhân cho Người; (iii) thẩm định khả năng lặp lại một cách có ý thức những lời cam kết rửa tội. Nội dung của việc đào tạo xoay quanh ba đề tài chính: đạo lý về Chúa Thánh Thần; các công hiệu của bí tích; những lời cam kết kèm theo việc lãnh bí tích.

- Những người có trách nhiệm huấn giáo là: cộng đoàn Kitô hữu; cha mẹ; những người đỡ đầu; các mục tử; và xa hơn nữa là các Hội đồng Giám mục.

Đối với người lớn, việc chuẩn bị diễn ra trong khung cảnh của đào tạo dự tòng.

2. Tác viên

Trong Hội thánh nguyên thủy, việc đặt tay và trao ban Thánh Thần được coi như tác vụ dành riêng cho các thánh Tông đồ (Cv 8,14-18; 19,1-7). Trong ba thế kỷ đầu tiên, Giám mục, xét như là thủ lãnh của Giáo hội địa phương, là người có thẩm quyền nhìn nhận các phần tử mới của cộng đoàn, và xét như là dấu hiệu của sự hiện diện của thánh Tông đồ, ngài rửa tội và đặt tay hoặc xức dầu (xức dầu lần thứ hai) cho những người đã được rửa tội, với sự trợ giúp của các linh mục; khi nào các linh mục rửa tội và xức dầu lần thứ nhất sau khi làm Phép Rửa, thì Giám mục đặt tay và xức dầu chrisma.

Từ thế kỷ III, có sự khác biệt giữa Đông phương và Tây phương. Bên Đông phương, do sự mở rộng các cộng đoàn về miền quê và vì muốn duy trì sự thống nhất của các bí tích Khai tâm, cho nên các linh mục được ban bí tích Thêm sức do sự ủy nhiệm thường xuyên của Giám mục. Do đó, các linh mục được coi như tác viên thông thường của bí tích. Bên Tây phương, tập tục thay đổi tùy thời tùy nơi. Chẳng hạn như ở Tây Ban Nha, công đồng Elvira (k. năm 300) quyết định rằng Giám mục ban bí tích Thêm sức (c. 77), trong khi công đồng Toledeo năm 400 quyết định rằng các linh mục có thể ban bí tích Thêm sức khi không có Giám mục, hoặc ngay cả khi Giám mục hiện diện nếu ngài cho phép (c. 20). Trái lại, ở châu Phi và Rôma, tác viên thông thường là Giám mục. Thậm chí Rôma can thiệp mạnh mẽ khi linh mục cử hành bí tích Thêm sức. Lá thư của ĐTC Innocentê I (năm 416) cho giám mục Gubbio chống lại các linh mục, và thư của thánh Giáo hoàng Grêgoriô (năm 593) gửi giám mục Cagliari chống lại các linh mục Sardegna là hai thí dụ cụ thể. Tuy nhiên, khi thiếu vắng Giám mục, đôi khi các linh mục được phép ban bí tích. Từ thế kỷ XIII, Tòa Thánh dễ dàng cho phép các linh mục thừa sai được thêm sức cho các tân tòng, nếu vị Giám quản tông tòa vắng mặt.

Bộ giáo luật 1917 quy định rằng: a) Giám mục là tác viên thông thường (đ. 782,1); b) tác viên ngoại thường là các linh mục được năng quyền này do luật chung hoặc do đặc ân Tòa thánh (đ. 782,2).

Nghi thức 1971 mở rộng năng quyền như sau. Đối với người lớn, hoặc thiếu nhi đến tuổi học giáo lý, hoặc người được đưa vào hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội, thì linh mục nào được ủy quyền hợp pháp để rửa tội thì đương nhiên cũng được năng quyền ban bí tích Thêm sức. Ngoài ra, trong những trường hợp quá đông ứng viên, thì các linh mục khác cũng được mời kết hợp với những tác viên thông thường hoặc ngoại lệ.

Bộ giáo luật không dùng từ ngữ tác viên “nguyên thủy” (minister originarius) nhưng là “thông thường” (ordinarius), và ấn định rằng “tác viên thông thường của bí tích Thêm sức là Giám mục” (đ. 882) và cũng thêm rằng cũng có thể ban bí tích thành sự linh mục nào có năng quyền do luật chung hoặc do một thẩm quyền cấp. Điều này được xác định rõ hơn trong các điều 883 và 884:

Điều 883: Những vị sau đây đương nhiên có năng quyền ban bí tích Thêm Sức:

10 những vị được luật đồng hóa với Giám Mục giáo phận, trong giới hạn thẩm quyền của mình;

20 đối với người liên hệ, thì linh mục nào chiếu theo chức vụ hoặc được Giám mục giáo phận ủy quyền Rửa Tội cho một người đã quá tuổi nhi đồng hoặc tiếp nhận một người đã được Rửa Tội và hiệp thông trọng vẹn với Giáo hội Công giáo;

30 đối với những người trong cơn nguy tử, thì cha sở và thậm chí bất cứ linh mục nào.

Điều 884. §1. Giám mục giáo phận phải đích thân ban bí tích Thêm Sức hoặc phải liệu sao để có một Giám mục khác ban bí tích này; nhưng nếu cần, ngài có thể ban năng quyền cử hành bí tích Thêm Sức cho một hay nhiều linh mục nhất định.

§2. Vì một lý do nghiêm trọng, Giám mục và cả linh mục nào có năng quyền ban bí tích Thêm Sức chiếu theo luật hoặc do nhà chức trách có thẩm quyền ban riêng cho, đều có thể mời các linh mục cùng ban bí tích với mình trong từng trường hợp.

3. Người đỡ đầu

a. Nói chung

Những thông tin đầu tiên về người đỡ đầu trong bí tích Thêm sức xuất hiện trong vài công nghị ở Gaule (Pháp) vào thế kỷ VIII-IX, ngăn cấm các cha mẹ và tội nhân công khai không được giữ vai trò đỡ đầu.

Từ thế kỷ IX, trong Sách Lễ Grêgoriano thêm một chi tiết trong lễ nghi, đó là ứng viên đặt chân của mình trên chân phải của người đỡ đầu, trừ khi nào đương sự còn quá nhỏ thì được bồng trên tay. Cử chỉ này bắt nguồn từ nước Đức, hàm ý là người đỡ đầu lãnh nhận đương sự làm của riêng và bảo đảm việc đào tạo thiêng liêng cho họ. Trên thực tế, cử chỉ này dần dần được thay thế bởi vì người đỡ đầu đặt tay phải của mình lên vai ứng viên.

Sách Nghi thức 1971 nói rằng nếu ứng viên là ấu nhi thì được tháp tùng bởi một trong các người đỡ đầu hay cha mẹ (số 25) và vào lúc xức dầu chrisma, người đỡ đầu đặt tay phải lên vai ứng viên và nói cho Giám mục tên gọi của ứng viên (số 34).

b. Số lượng

Giáo hội ước mong rằng mỗi ứng viên có một người đỡ đầu, và coi việc một người đỡ đầu cho nhiều người là một sự lạm dụng. Bộ giáo luật 1917 nói rõ rằng “mỗi ứng viên bí tích Thêm sức hãy có người đỡ đầu riêng (đ. 794,1). Điều này được Nghi thức 1971 lấy lại (số 5). Tuy nhiên, Bộ Giáo luật 1983 dùng lối nói xoa dịu “nếu có thể được” (đ. 892).

c. Bản chất

Về chức năng của người đỡ đầu, sách Nghi thức kể ra như sau (số 5): đưa các ứng viên lên lãnh bí tích, và giúp họ chu toàn những lời cam kết rửa tội nhờ Thánh Thần đã lãnh nhận. Bộ giáo luật 1983 nêu bật trách nhiệm giúp cho ứng viên hành xử như chứng nhân đích thực của Chúa Kitô và chu toàn những nghĩa vụ gắn liền với bí tích (đ. 892).

d. Điều kiện

Sách Nghi thức đã làm một sự thay đổi quan trọng. Trong quá khứ, giáo luật cấm không cho người đỡ đầu lúc rửa tội được làm người đỡ đầu lúc thêm sức (đ. 796,1). Bây giờ thì ngược lại, đó là khuyến khích người đỡ đầu lúc rửa tội cũng làm người đỡ đầu lúc thêm sức (Nghi thức số 5; Bộ Giáo luật 1983, đ. 893,2). Lý do của sự thay đổi này mang tính cách thần học, nhằm nêu bật mối liên hệ chặt chẽ giữa bí tích Rửa tội và bí tích Thêm sức.

Về điều kiện để làm người đỡ đầu, điều 874 Bộ Giáo luật 1983 lặp lại Sách Nghi thức (số 6), quy định như sau:

§1. Để được chấp nhận giữ nhiệm vụ đỡ đầu, người đỡ đầu phải: 10 do chính người sắp được Rửa Tội chọn hay do cha mẹ hay những người thay quyền cha mẹ chọn, hoặc thiếu những người ấy, thì do cha sở hay do thừa tác viên chọn, và phải có khả năng và ý muốn đảm nhận nhiệm vụ này; 20 đủ mười sáu tuổi trọn, trừ khi Giám mục giáo phận đã ấn định một mức tuổi khác, hoặc trừ khi cha sở hay hừa tác viên xét thấy phải chấp nhận, vì một lý do ngoại lệ; 30 là người Công giáo đã lãnh nhận bí tích Thêm Sức, và bí tích Thánh Thể, và phải có đời sống xứng hợp với đời sống đức tin và nhiệm vụ phải đảm nhận; 40 không mắc một hình phạt của giáo luật đã được tuyên kết hay tuyên bố cách hợp pháp; 50 không là cha hoặc mẹ của người được Rửa Tội.

§2. Một người đã được Rửa Tội thuộc một cộng đoàn của Giáo Hội không Công giáo chỉ được chấp nhận như là nhân chứng của bí tích Rửa Tội cùng với một người đỡ đầu Công giáo.

II. Những quy định của Bộ Giáo luật 1983


Bộ Giáo luật 1983 bàn về bí tích Thêm sức ở quyển Bốn (Nhiệm vụ thánh hóa của Giáo hội), phần I (các bí tích), đề mục 2 (bí tích Thêm sức), từ điều 879 đến điều 896. Trước hết, chúng ta hãy điểm qua bố cục, và sau đó nêu bật vài quy định quan trọng dưới khía cạnh pháp lý

A. Bố cục


Sau một điều luật dẫn nhập (đ. 879) mang tính cách tín lý, nội dung được phân phối trong 5 chương:

Chương 1: Cử hành bí tích Thêm sức (đ. 880-881). Ngoài việc quy định chất thể và mô thể, nhà lập pháp còn nhắc đến thời gian và nơi chốn.

Chương 2: Thừa tác viên bí tích (đ. 882-888). Tác viên thông thường và ngoại thường

Chương 3: Những người lãnh nhận bí tích (đ. 889-891). Bên cạnh những quy định về điều kiện lãnh bí tích, nhà lập pháp còn nhắc đến việc chuẩn bị để lãnh bí tích, cũng như tuổi thích hợp

Chương 4: Người đỡ đầu (đ. 892-893), quy chiếu về người đỡ đầu nói ở đ. 874 về bí tích Rửa tội

Chương 5: Chứng thư và ghi sổ (đ. 894-896).

Nói chung, bố cục này tuân theo quan điểm cổ điển về IUS (công lý, công bình). Trước hết, cần phải xét đến công lý khách quan, được tạo nên bởi một mối tương quan (chương 1); kế đó, cần xét tới quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong tương quan ấy, cụ thể là người ban bí tích (chương 2) và người lãnh bí tích (chương 3 và 4; người đỡ đầu đứng về phía người lãnh bí tích. Chương cuối cùng bàn về vài thủ tục.

B. Nhận xét


Vì không muốn lặp lại những điều đã được nói đến trong phần nghi thức phụng vụ, chúng tôi chỉ muốn ghi nhận một vài đặc điểm liên quan đến: thần học bí tích, thừa tác viên, người lãnh nhận, những hệ quả pháp lý.

1. Thần học bí tích

Trong điều dẫn nhập (879), Bộ Giáo luật đã cố gắng cô đọng tất cả đạo lý Công giáo như sau:

Nhờ bí tích Thêm Sức in một ấn tích, những người đã được rửa tội đang tiếp tục con đường khai tâm Kitô giáo được dồi dào ơn Chúa Thánh Thần và được liên kết chặt chẽ hơn với Giáo hội; bí tích này tăng sức cho họ và buộc họ cách nghiêm ngặt hơn phải trở nên nhân chứng của Đức Kitô bằng lời nói và bằng việc làm, cũng như phải truyền bá và bênh vực đức tin.

Như vậy, Bộ Giáo luật đã lấy lại những điểm chính yếu của bí tích đã được công đồng Vaticanô II gợi lên (LG 11.33; AA 3), cách riêng liên quan đến những công hiệu của bí tích, đó là:

- Bí tích này dẫn đưa tín hữu tiến lên trên con đường khai tâm Kitô giáo. Như chúng ta đã biết, ba bí tích Khai tâm là: Rửa tội, Thêm sức và Thánh Thể.

- Bí tích này in ấn tích vào linh hồn, và chỉ được ban một lần.

- Kết quả chính của bí tích là ơn Chúa Thánh Thần, nhờ đó người tín hữu được gắn bó với Giáo hội hơn, tham gia tích cực hơn vào sứ mạng tông đồ của Giáo hội, đặc biệt qua việc làm chứng cho đức tin bằng lời nói và việc làm.

2. Thừa tác viên

Như đã nói trên đây (trong nhận xét về Sách Nghi thức), Bộ Giáo luật nói đến Giám mục như là tác viên “thông thường” thay vì “nguyên thủy”. Từ ngữ “nguyên thủy” (originarius) đã được công đồng Vaticanô II sử dụng (LG 26; OE 13) bởi vì muốn tôn trọng truyền thống của các Giáo hội Đông phương. Tại đây, Giám mục thánh hiến dầu thánh, nhưng thông thường linh mục cử hành bí tích (gắn liền với bí tích Rửa tội và Thánh Thể). Tuy nhiên, cũng nên ghi nhận rằng Bộ Giáo luật 1983, một đàng tuyên bố rằng các Giám mục là tác viên “thông thường” (đ.882), nhưng cũng chấp nhận cho các linh mục được ban bí tích này, do năng quyền của luật chung hay luật riêng được mô tả ở điều 883. Nhà lập pháp không gọi các linh mục ấy là “tác viên ngoại thường” (extraordinarius), mà chỉ nói là được cấp năng quyền (facultas) để ban bí tích thành sự.

3. Người lãnh bí tích

Trên đây (trong nhận xét về sách Nghi thức), chúng tôi đã nhắc đến những quan điểm khác nhau liên quan đến tuổi lãnh bí tích: có nơi muốn duy trì thứ tự các bí tích Khai tâm, cho nên ban bí tích Thêm sức trước khi rước lễ lần đầu (hoặc cùng lúc), nghĩa là hơn kém vào 7 tuổi; có nơi muốn dành việc lãnh bí tích Thêm sức cho các thiếu nhi trưởng thành, nghĩa là có ý thức về các lời cam kết rửa tội và sẵn sàng tham gia vào việc làm chứng tá cho Chúa Kitô.

Bộ Giáo luật (đ. 891) để cho các Hội đồng Giám mục quyết định về tuổi lãnh bí tích. Trong lãnh vực đối thoại đại kết, các Giáo hội Chính thống đã chỉ trích Giáo hội Công giáo bởi vì không những đã tách rời việc ban ba bí tích Khai tâm mà còn đảo lộn thứ tự (Rửa tội – Thánh Thể - Thêm sức.)

4. Những hiệu quả pháp lý

Trên đây, chúng ta đã nhắc đến những công hiệu của bí tích xét về thần học. Bên cạnh đó, chúng ta không nên bỏ qua các hiệu quả pháp lý của việc lãnh bí tích Thêm sức. Giáo luật đặt việc lãnh bí tích Thêm sức như điều kiện cho việc thi hành vài tác vụ trong Giáo hội, cụ thể là: a) để gia nhập đại chủng viện (đ. 241§2); b) gia nhập tập viện (đ. 645§1); c) làm người đỡ đầu cho ứng viên rửa tội (đ. 874§ 1, 3°) hay thêm sức (đ. 893§1); d) lãnh chức thánh (đ. 1033); e) lãnh bí tích hôn phối (đ. 1065§1).

Kết luận


Trong bài này, chúng ta chỉ dừng lại ở việc phân tích nghi thức phụng vụ và giáo luật của Giáo hội Latinh. Tuy nhiên, chúng ta đừng quên rằng xét về kỷ luật, Giáo hội Công giáo gồm hai Bộ Giáo luật (Latinh và Đông phương), còn xét về phụng vụ, thì các nghi điển cử hành còn nhiều hơn nữa. Chắc hẳn việc đối chiếu giữa các quy định của kỷ luật và phụng vụ sẽ cung cấp một cái nhìn phong phú hơn về đời sống Giáo hội, nhưng điều kiện của số báo này không cho phép. Chỉ xin ghi nhận vắn tắt hai điểm liên quan đến công thức và tác viên cử hành.

1/ Công thức cử hành. Như đã nói trên đây, nghi thức cải tổ năm 1971 lấy lại công thức bên Đông phương: “Hãy lãnh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”. Nhưng bên Đông phương, cách thức xức dầu hơi khác. Sau lời nguyện khẩn cầu Thánh Thần, tác viên xức dầu trên trán, mắt, mũi, tai, lưng, hai tay và hai chân, đang khi đọc “Ấn tín của hồng ân là Chúa Thánh Thần”.

2/ Tác viên. Theo giáo luật Đông phương, tất cả các linh mục đều có thể cử hành bí tích thành sự hoặc cùng một lúc với việc rửa tội hoặc tách rời (đ. 696). Vấn đề cử hành tách rời được đặt ra cách riêng khi tiếp nhận vào sự hiệp thông Công giáo một Kitô hữu thuộc một cộng đoàn Giáo hội không có bí tích Thêm sức (thí dụ các Giáo hội Tin lành)[6].
_______

[1] Về nội dung của Tông hiến, xem bài số 2 của số báo này.
[2] [ND] Đạo lý về bảy ân huệ Thánh Linh dựa trên đoạn văn Isaia 11,1-3: “Từ gốc tổ Giesê sẽ đâm ra một nhánh nhỏ, từ cội rễ ấy, sẽ mọc lên một mầm non. Thần khí Giavê sẽ ngự trên vị này: thần khí khôn ngoan và minh mẫn, thần khí mưu lược và dũng mãnh, thần khí hiểu biết và kính sợ Giavê. Lòng kính sợ Giavê làm cho Người hứng thú”. Về tác động của bảy ân huệ Thánh Linh trong đời sống Kitô, xc. bài viết của Javier Sese, “Các ân huệ Thánh Linh và con đường nên thánh”, trong Thời sự Thần học, số 76 (tháng 7/2017), tr. 55-86.
[3] “Signo te signo crucis et confirmo te chrismate salutis. In nomine Patris et Filii et Spiritus Sancti” (M. Andrieu, Le Pontifical Romain au Moyen-Age, t. 1, Le Pontifical Romain du XIIe siècle: Studi e Testi, 86, Città del Vaticano 1938, p. 247).
[4] Xc. Cirillô Giêrusalem, Catechesis XVIII, 33 (PG 33, 1056); Asterio, giám mục Amasea, In parabolam de filio prodigo, in “Photii Bibliotheca”, Cod. 271 (PG 104,213). Xem thêm Epistola cuiusdam Putriarchae Constantinopolitani ad Martyrium Episcopum Antiochenum (PG 119, 900). Thực ra, tại công đồng Constantinopolis (năm 381), thuật ngữ này được dùng như tiêu chuẩn để đón nhận những người được gia nhập Giáo hội (can. 5), và được đưa vào nghi thức bí tích Thêm sức vào thế kỷ V.
[5] [ND] Tư tưởng “Thánh Thần là ân huệ hay tặng phẩm” còn được Tân Ước nói đến ở nhiều đoạn khác. Trong cuộc đối thoại với người phụ nữ Samaria, Chúa Giêsu nói: “Giả như chị nhận ra ân huệ của Thiên Chúa” (Ga 4,10); ân huệ này được diễn tả qua hình ảnh nước hằng sống, được hiểu như là sự mặc khải của Thánh Thần, hoặc Thánh Thần giúp cho mặc khải thấm nhập vào linh hồn (Ga 7,37-39). Trong phần kết của bài giảng lễ Ngũ tuần, thánh Phêrô nói: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu Phép Rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô, để được ơn tha tội, và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần” (Cv 2,38; xc. 8,20; 10,45; 11,10). Mặt khác, thánh Phaolô khẳng định rằng “tình yêu Thiên Chúa đã được đổ xuống tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Thần, Đấng được ban cho chúng ta” (Rm 5,5).
[6] Xem thêm “Kim chỉ nam áp dụng những nguyên tắc và quy chuẩn của đại kết” do Hội đồng Tòa Thánh cổ võ sự hợp nhất các Kitô hữu ban hành ngày 25/3/1993, số 103.
Bài đăng cũ hơn
Bài đăng mới hơn Không tìm thấy kết quả nào
//