SỰ TIẾN TRIỂN ĐẠO LÝ CÔNG GIÁO VỀ BÍ TÍCH THÊM SỨC

Thời sự Thần học - Số 104, tháng 05/2024, tr. 37-57

@ Mario Florio

Nhập đề. Từ một nghi thức bổ túc cho việc Rửa Tội đến đạo lý về một bí tích biệt lập
I. Thần học kinh viện: Hugues de St Victor, Petrus Lombardus, thánh Tôma Aquinô
II. Huấn quyền Giáo hội Công giáo từ thời Trung cổ đến nay: Công đồng Lyon II (1274), Firenze (1439), Trento (1547). Vaticanô II (1963), Phaolô VI (1971)
Nguồn: “Il Sacramento del Battesimo. Il Sacramento della Confermazione”, in Sacramentaria speciale. I. Battesimo, confermazione, eucaristia, EDB, Bologna 2004.

Nhập đề


Trước đây, các sách thần học Công giáo về bí tích Thêm sức thường bắt đầu bằng việc trưng dẫn hai đoạn văn sách Tông đồ Công vụ (8,15-17 và 19,5-6) nhằm cho thấy rằng những người đã được Rửa tội cần được các thánh Tông đồ đặt tay để lãnh nhận Thánh Thần. Tuy nhiên, ngày nay, các học giả không chấp nhận lối lập luận ấy, bởi vì sách Tông đồ Công vụ cũng có những đoạn khác nói đến việc đặt tay và ban Thánh Thần trước khi Rửa tội, hoặc không gắn liền việc trao ban Thánh Thần với việc đặt tay.

Các cuộc nghiên cứu gần đây về sự tiến triển thần học bí tích Thêm sức cho thấy vấn đề phức tạp hơn nhiều. Một đàng, bên các Giáo hội Đông phương, mãi cho đến ngày nay, ba bí tích khai tâm (Rửa tội, Thêm sức, Thánh Thể) đều được ban cùng một lúc, kể cả cho các ấu nhi, cho nên người ta không đặt vấn đề về một bí tích tiếp theo phép Rửa tội; trong chiều hướng này, Thánh Thần đã được ban lúc lãnh bí tích này. Đàng khác, sự phát triển bí tích Thêm sức chỉ diễn ra bên Tây phương, với sự tiến triển khá lớn trong quan niệm thần học về bí tích này (mang tên là Confirmatio có nghĩa là: xác nhận, củng cố). Lúc đầu, nó ám chỉ một hành vi pháp lý xác nhận giá trị của việc ban phép Rửa tội, cách riêng do một tác viên ngoài Giáo hội Công giáo. Kế đến, nó ám chỉ việc Giám mục xức dầu chrisma, lúc đầu ngay trong chính lúc cử hành phép Rửa tội, nhưng dần dần được thi hành trong một nghi thức tách rời khỏi việc Rửa tội[1]. Hành động của Giám mục được coi như “bổ túc” cho việc Rửa tội.

Như vậy, việc nghiên cứu lịch sử thần học về bí tích Thêm sức bắt đầu bằng việc tìm hiểu các sách nghi thức phụng vụ[2]. Người ta thấy có một sự tiến triển khá lâu dài vào thời các giáo phụ, từ đầu thế kỷ III (sách Traditio apostolica) cho đến thế kỷ VI (Sacramentarium Gelasianum, Ordo Romanus XI). Kèm theo những cử chỉ xức dầu chrisma và đặt tay lên đầu của Giám mục, - trong một nghi thức tách rời khỏi phép Rửa tội, người ta nêu bật ý nghĩa trao ban Thánh Thần. Một chứng tích quan trọng là bài giảng của giám mục Fausto de Riez (405-490). Tác giả nêu bật tác dụng của nó như là tăng thêm ân sủng (augmentum gratiae) và tăng cường sức mạnh để chiến đấu (robur ad pugnam). Tư tưởng ấy đã để lại ảnh hưởng sâu đậm nơi các tác phẩm thời Trung cổ. Dần dần, việc xức dầu sau khi Rửa tội được cử hành trong một nghi thức riêng biệt do Giám mục chủ sự. Trong bối cảnh này, việc xức dầu chrisma trở thành trọng tâm của bí tích thứ hai, với điểm nhấn là ban ân huệ Thánh Thần.

Trong bài này, chúng ta sẽ theo dõi sự tiến triển thần học về bí tích Thêm sức, trước tiên, nơi các tác giả kinh viện; kế đến là Huấn quyền của Hội thánh Công giáo từ thế kỷ XIII cho đến thế kỷ XX.

I. Thần học Kinh viện


Tác giả quan trọng nhất của thần học Công giáo là thánh Tôma Aquinô (thậm chí đạo lý của ngài được trích dẫn trong nhiều văn bản Huấn quyền). Tuy nhiên, ngài đã được mở đường bởi vài nhà thần học kinh viện trước đó, cụ thể là Hugues de Saint Victor và Petrus Lombardus. Đó là ba tác giả sẽ được trình bày dưới đây.

A. Hugues de Saint Victor (k. 1096-1141)


Tác phẩm De sacramentis christianae fidei được coi là khảo luận thần học có hệ thống nhất về các bí tích. Nên biết là vào thời đó, khái niệm “bí tích” (sacramentum) còn mơ hồ: bất cứ dấu chỉ (signum) nào của sự thánh thiện cũng được gọi là bí tích (chẳng hạn làm dấu thánh giá), và như vậy con số có thể lên đến hàng chục. Hugues bắt đầu xác định khái niệm bí tích, đó là không những chỉ là “dấu chỉ” mà còn là “nguyên nhân” mang lại ơn thánh. Trong bối cảnh ấy, ông đã phân loại các bí tích “chính” (sacramenta maiora) và các bí tích “phụ” (sacramenta minora), nền tảng cho sự phân biệt sau này giữa “bí tích” và “phụ tích” (sacramentalia).

Trong khảo luận này, sau 14 chương dành cho bí tích Rửa tội, tác giả dành 6 chương cho bí tích Thêm sức; như vậy được xem như một bí tích biệt lập[3]. Có 6 đề tài căn bản được xét đến:

- Dầu chrisma (ý nghĩa dựa theo Kinh Thánh);

- Việc đặt tay dành riêng cho Giám mục;

- Sự can thiệp của giáo hoàng Silvestro liên quan đến việc xức dầu của linh mục sau khi ban phép Rửa tội (như vậy việc xức dầu của Giám mục thì khác với việc xức dầu của linh mục: Giám mục xức dầu trên trán, còn linh mục xức dầu trên gáy);

- Tầm quan trọng của bí tích Thêm sức so với bí tích Rửa tội (mặc dù cả hai đều quan trọng cho phần rồi, bí tích Thêm sức cao quý hơn bởi vì duy chỉ Giám mục mới có thể ban);

- Bí tích Thêm sức không thể được lặp lại (cũng như bí tích Rửa tội);

- Việc cử hành: các tác viên lẫn thụ nhân đều phải ăn chay trước khi lãnh bí tích; sau khi lãnh bí tích, thụ nhân phải qua một thời gian huấn giáo 7 ngày để đào sâu thêm ý nghĩa các ân huệ của Thánh Thần.

Đặc biệt là tác giả coi việc đặt tay như cử chỉ cốt yếu của bí tích: Manus impositio quae usitato nomine confirmatio vocatur, qua Christianus unctione chrismatis per impositionem manus in fronte signatur; solis episcopis apostolorum vicariis debetur, ut Christianum consignent, et spiritum Paracletum tradant; sicut in primitiva Ecclesia Spiritum sanctum per impositionem manuum dandi soli apostoli potestatem habuisse leguntur (PL 176,460 C-D).

B. Petrus Lombardus (k. 1095-1160)


Đây là một tác giả quan trọng ít là vì hai lý do: 1/ Tác phẩm Sententiarum libri quatuor được dùng làm sách giáo khoa tại phân khoa thần học; các giáo sư dựa vào đó để giảng dạy cho các sinh viên. 2/ Tác giả xác định chỉ có 7 bí tích mà thôi. Quan điểm này sẽ được huấn quyền tiếp nhận, và sau này được công đồng Trento coi như đạo lý của Hội thánh Công giáo.

Các bí tích được bàn trong quyển Bốn của Sententiarum. Sau khi đã trình bày đạo lý về các bí tích nói chung và bí tích Rửa tội nói riêng, tác giả dành Distinctio VII để nói vắn tắt về bí tích Thêm sức, gồm 2 chương.

1/ Chương 1 bàn về tác viên bí tích (duy chỉ Giám mục mới có quyền ban bí tích); mô thức (forma) của bí tích gồm những lời đọc khi xức dầu chrisma trên trán); sự cần thiết của bí tích (để trở thành Kitô hữu sung mãn: ut pleni Christiani inveniantur)

2/ Chương 2 bàn về phẩm giá của bí tích Thêm sức. Bí tích này cao quý vì lý do tác viên (Giám mục), vì xức dầu trên trán (phần cao trọng nhất trong cơ thể), vì công hiệu của nó (tăng thêm ân sủng: maius augmentum virtutum praestat).

C. Thánh Tôma Aquinô (k. 1224-1274)


Thánh nhân bàn đến bí tích đặc biệt trong hai tác phẩm tổng hợp: 1/ Chú giải sách Sententiae quyển Bốn (viết khi bắt đầu dạy học). 2/ Tổng luận thần học (viết vào cuối đời)[4].

1. Chú giải Sententiae.

Tác giả bàn ba vấn đề: 1/ có phải là bí tích không, chất thể và mô hình là gì; 2/ công hiệu; 3/ cách thức cử hành.

- Phép Thêm sức là một bí tích do Chúa Kitô thiết lập, mặc dù không thấy nói trong Tin Mừng và Tông đồ Công vụ. Lý do là vì kỷ luật giữ kín (disciplina arcani): thời Hội thánh sơ khai, những gì liên quan đến việc cử hành phải giữ kín, vì sợ dân ngoại chê cười. Tuy nhiên, một nền tảng ám tàng của việc thiết lập là Chúa Giêsu đặt tay lên đầu các thiếu nhi, được kể lại trong Tin Mừng.

- Xét về công hiệu, bí tích Thêm sức ghi lại ấn tích (giống như bí tích Rửa tội và Truyền Chức Thánh), nhằm giúp tín hữu hiểu biết các thực tại thiêng liêng nhờ việc tuyên xưng.

2. Trong sách Summa Theologiae (III pars).

Bí tích Thêm sức được bàn ở q. 72, liền sau bí tích Rửa tội (q. 60-71), và trước bí tích Thánh Thể (q. 73-83), với 12 articoli.

Nội dung các câu hỏi như sau: 1/ Thêm sức có phải là bí tích không? 2/ dầu chrisma có phải là chất thể thích hợp không? 3/ dầu chrisma có cần được Giám mục thánh hiến để việc ban bí tích được thành sự không? 4/ mô thể của bí tích có thích hợp không? 5/ bí tích Thêm sức có ghi ấn tích không? 6/ ấn tích ấy có khác với ấn tích Rửa tội không? 7/ bí tích có ban ơn thánh sủng không? 8/ Có nên ban cho tất cả mọi người không? 9/ có nên xức dầu trên trán không? 10/ những người khác có phải trợ giúp người lãnh bí tích không? 11/ phải chăng chỉ có Giám mục mới có thể ban bí tích? 12/ Nghi thức cử hành có thích hợp không?

Như vậy, tác giả đã bàn đến tất cả mọi khía cạnh của bí tích: việc thiết lập; mô thể và chất thể; công hiệu; tác viên, nghi thức cử hành. Mặc dầu thánh Tôma bình giải thần học dựa theo cách thức cử hành vào thời của ngài, nhưng ngài không bỏ qua truyền thống lịch sử. Chúng ta hãy điểm qua vài điểm chính.

a) Việc thiết lập. Bí tích này do Chúa Kitô thiết lập, khi Người hứa sẽ ban Thánh Thần cho các môn đệ (Nếu Thầy không ra đi, thì Đấng An Ủi sẽ không đến). Việc trao ban Thánh Thần diễn ra sau khi Chúa Phục sinh, vì thế không được ghi lại trong sách Tin Mừng (art.1).

b) Về chất thể. Đây là một đầu đề tranh luận vào thời đó: chất thể bí tích là dầu chrisma hay là việc đặt tay lên đầu? Vấn nạn là các sách Tân Ước nói đến việc các Tông đồ đặt tay để ban Thánh Thần, chứ không nói đến việc xức dầu. Theo thánh Tôma, dầu chrisma là chất thể thích hợp, bởi vì ban sức mạnh Thánh Thần. Dựa trên uy tín của ông Đionisiô, tác giả cho rằng các thánh Tông đồ đã dùng dầu chrisma (được coi như là mầu nhiệm). Dầu chrisma được thánh hiến bởi Giám mục tượng trưng cho Đức Kitô trong Giáo hội.

c) Về mô thể (art.4). Công thức thời đó là: “Consigno te signo crucis, confirmo te chrismate salutis, in nomine Patris et Filii et Spirictus Sancii. Amen». Thánh Tôma giải thích rằng công thức này thích hợp, xét vì bí tích này mang lại sức mạnh cho cuộc chiến đấu thiêng liêng, do đó: (i) nguồn ban sức mạnh là Chúa Ba Ngôi (nhân danh Cha…); (ii) bản chất của sức mạnh được biểu lộ qua dầu thánh (chrisma), dầu thánh cũng tượng trưng cho Đức Kitô; (iii) dấu hiệu chiến đấu (dấu thánh giá là dấu mà Chúa Kitô đã chiến thắng).

d) Về công hiệu (art.5-7). Bí tích này ban ơn thánh hóa. Thực ra, trong bí tích Rửa tội, con người đã nhận lãnh Thánh Thần thánh hóa; còn trong bí tích Thêm sức, Thánh Thần được ban để tăng Thêm sức mạnh, cũng tương tự như Thánh Thần được ban cho các Tông đồ vào lễ Ngũ Tuần, hoặc Thánh Thần được các tông đồ trao ban qua việc đặt tay trên những người đã được Rửa tội. Ơn Chúa Thánh Thần được diễn tả như là tăng sức (ad robur, augmentum gratiae), củng cố đức công chính (ad firmitatem iustitiae).

e) Bí tích Thêm sức cũng ghi ấn tích (character). Điều này được bàn rải rác ở các art. 5, 6, 9. Ấn tích được giải thích như quyền năng thiêng liêng (spiritualis potestas) để thi hành chức vụ thánh. Về điểm này, thánh Tôma đã khai triển đạo lý gây ảnh hưởng sâu xa cho hậu thế. Bí tích Thêm sức ban cho con người được trưởng thành thiêng liêng (perfectio spiritualis aetatis). Bí tích Rửa tội ví như sự sinh ra về tinh thần; và sau khi đã sinh ra, con người cần phải lớn lên trong đời sống thiêng liêng. Sự trưởng thành này được diễn tả qua nhiều lối nói. Khi lãnh bí tích Rửa tội, con người lãnh nhận quyền năng để thi hành những hành vi liên quan đến sự cứu rỗi của mình; trong bí tích Thêm sức, con người nhận được quyền năng để thi hành những hành vi liên quan đến sự chiến đấu thiêng liêng chống lại những kẻ thù của đức tin. Sự trưởng thành thiêng liêng gắn với sự chiến đấu: con người nhận được sức mạnh thiêng liêng để chiến đấu, để làm chứng đức tin. Nên biết là thánh Tôma cũng kể đến khả năng lãnh nhận bí tích Thánh Thể. Dù sao, tuy người lãnh bí tích Thêm sức được coi như trưởng thành, vững mạnh, nhưng cũng cần được trợ giúp trong tiến trình chiến đấu (art.10).

f) Về tác viên (art.11). Duy chỉ Giám mục mới có thể ban bí tích thành sự. Lý do dựa trên Tân Ước: sự sung mãn Thánh Linh được ban qua việc đặt tay của các Tông đồ mà Giám mục là đại diện. Trong bí tích này, Giám mục thông ban sự sung mãn Thánh Linh. Bí tích Thêm sức được so sánh với bí tích Rửa tội như là sự kiện toàn. Bí tích Rửa tội ví như là hình thành tòa nhà thiêng liêng, còn bí tích Thêm sức thánh hóa tòa nhà ấy thành đền thờ Chúa Thánh Thần.

Có thể nói được rằng thần học của thánh Tôma đã để lại dấu ấn trên các sách giáo lý, thần học Công giáo ở các thế kỷ sau. Nói chung, bí tích Thêm sức được giải thích như là bí tích của sự trưởng thành Kitô giáo (còn bí tích Rửa tội là bí tích tái sinh), nhờ việc lãnh nhận bảy ơn Chúa Thánh Thần. Người tín hữu được trưởng thành thiêng liêng, trước hết là có khả năng tham dự bí tích Thánh Thể (nên nhớ thứ tự các bí tích là: Rửa tội – Thêm sức – Thánh Thể) cũng như làm chứng đức tin. Bí tích Rửa tội làm cho chúng ta trở thành con cái Chúa; bí tích Thêm sức giúp chúng ta hoạt động xứng với con cái Chúa, và làm chứng cho Đức Kitô.

Thiết tưởng cũng nên nhắc đến một cử chỉ được du nhập vào nghi thức, đó là Giám mục “tát” vào má sau khi xức dầu[5]. Cử chỉ này thường được giải thích như là dấu hiệu của “người lính Chúa Kitô” (lấy lại từ nghi thức tấn phong các hiệp sĩ), sẵn sàng chịu sỉ nhục vì danh Chúa. Tuy nhiên, cũng có người giải thích như là dấu chỉ của việc chúc bình an (như vậy, có nghĩa là “vuốt má”, chứ không phải là “tát má”). Danh xưng “confirmatio” được giải thích theo hai chiều hướng; khách thể và chủ thể. Xét cách khách thể, bí tích này “tăng Thêm sức mạnh” cho tín hữu. Xét về phía chủ thể, người tín hữu “xác nhận” (khẳng định) lời cam kết đã lãnh khi Rửa tội (khi ấy còn bé bỏng, chưa hiểu biết gì).

II. Huấn quyền


Huấn quyền của Giáo hội Công giáo phải lên tiếng khẳng định bản chất của bí tích Thêm sức vào hai hoàn cảnh đặc biệt: thứ nhất, liên quan đến sự hợp nhất giữa Giáo hội Rôma với Giáo hội Đông phương; thứ hai, liên quan đến cuộc cải cách của Luterô.

A. Các công đồng hợp nhất Đông Tây


Cuộc phân ly giữa hai tòa Constantinopolis và Roma năm 1054 bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có những khác biệt quan niệm về tín lý cũng như về kỷ luật Giáo hội, dẫn đến sự đối kháng giữa đôi bên. Trong phạm vi đang bàn, chúng ta thấy có sự khác biệt đáng kể giữa Đông và Tây trong cách cử hành ba bí tích khai tâm. Bên Đông phương, cả ba bí tích đều được cử hành một lúc (kể cả cho các ấu nhi), và tác viên là linh mục. Bên Tây, bí tích Thêm sức dần dần được tách rời khỏi bí tích Rửa tội thành nghi thức biệt lập do Giám mục chủ sự.

Tại hai công đồng bàn về sự hợp nhất (Lyon II năm 1274 và Firenze 1439), Giáo hội Công giáo bắt các tín hữu Đông phương phải theo kỷ luật Rôma.

Tại công đồng Lyon II, hoàng đế Micae VIII Paleologo đọc bản tuyên xưng đức tin ở cuối khóa IV (ngày 6-7-1274), nhìn nhận 7 bí tích, trong đó bí tích Thêm sức do các Giám mục đặt tay và xức dầu trên các người đã được Rửa tội (Denz. 860). Lời tuyên xưng này sẽ còn được lặp lại vào năm 1585 (giáo hoàng Urbanô VI) bởi những người Hy Lạp trở về với Giáo hội Công giáo.

Tại công đồng Firenze (năm 1547), đạo lý về bí tích Thêm sức được trình bày trong sắc lệnh hiệp nhất với cộng đồng người Armêni, lặp lại thần học của thánh Tôma Aquinô[6] về chất thể, mô thể, tác viên và công hiệu (xc. Denz 1310-1313.1317-1319). Điều mà ĐTC Eugeniô IV muốn nhấn mạnh là tác viên thông thường của bí tích là Giám mục (Denz 1318), tuy trong vài trường hợp đặc biệt do phép của Tòa Thánh, linh mục có thể xức dầu chrisma đã được Giám mục thánh hiến[7]. Công hiệu của bí tích là người tín hữu nhận được sức mạnh của Chúa Thánh Thần để can đảm tuyên xưng danh Chúa Kitô, tương tự như các Tông đồ vào lễ Ngũ Tuần (Denz 1319). Nói đúng ra, Huấn quyền lặp lại thần học Latinh bắt đầu từ Fausto di Riez: bí tích Thêm sức tăng cường (augere) ân sủng rửa Tội, thêm sức mạnh (roborare) để làm chứng (Denz 1311).

B. Công đồng Trento


Vào thế kỷ XVI, Giáo hội phải đương đầu với một thách đố mới của phái Cải cách. Đối với họ, đạo lý về việc thiết lập các bí tích dựa trên nguyên tắc “chỉ duy Kinh Thánh” (sola Scriptum), vì thế họ chỉ chấp nhận hai bí tích là Rửa tội và Tiệc Thánh. Phép Thêm sức được coi như thuộc về những lễ nghi của Giáo hội, chứ không phải là bí tích ban ân sủng.

Công đồng Trento đã khẳng định đạo lý Công giáo trong sắc lệnh về các bí tích (Decretum de sacramentis, khóa VII ngày 3-3-1547), về việc Chúa Giêsu thiết lập bảy bí tích (xc. Denz 1601-1613). Liên quan đến phép Thêm sức, công đồng, trong ba “canones” (Denz 1628-1630), tuyên bố tuyệt thông (anathema sit) những ý kiến sau đây:

- Những ai phủ nhận phép Thêm sức không phải là một bí tích, và coi nó là một nghi thức vô dụng, hoặc chủ trương rằng nó chỉ là một huấn giáo dành cho những người đến tuổi trưởng thành, có cơ hội để xác nhận công khai đức tin của mình (can. 1: Denz 1628).

- Những ai chủ trương rằng thật là xúc phạm đến Chúa Thánh Thần khi gán cho việc xức dầu chrisma một công hiệu nào đó (can. 2: Denz 1629)

- Những ai chủ trương rằng tác viên thông thường của phép Thêm sức không chỉ là Giám mục mà bất cứ linh mục nào cũng được (can. 3: Denz 1630).

Thực ra, chỉ có 2 canones đầu tiên nhắm tới phái Cải cách, đặc biệt là ý kiến của Melanchton (can.1). Trong phần bí tích tổng quát, công đồng đã nói đến công hiệu của bí tích, đặc biệt ấn tích ghi trong linh hồn.

Xét về nội dung, công đồng Trentô không thêm điều gì mới lạ vào đạo lý cổ truyền. Sau công đồng, một quyển sách Giáo lý (Catechismus ad Parochos) được biên soạn và xuất bản năm 1566. Bên cạnh những nguyên tắc đạo lý, chúng ta đọc thấy vài quy định thực hành. Liên quan đến tuổi lãnh bí tích Thêm sức, sách Giáo lý viết như sau: “Tất cả các Kitô hữu đều phải lãnh bí tích này, nhưng không phải là vào bất cứ tuổi nào. Các ấu nhi chưa đến tuổi khôn, thì không nên ban bí tích này. Tuy không cần chờ cho đến 12 tuổi, nhưng xem ra nên chờ cho đến 7 tuổi”[8]. Trên thực tế, không ai ban bí tích Thêm sức cho các ấu nhi liền sau khi Rửa tội (như bên Đông phương), nhưng phải chờ đến một tuổi nào đó; điều này còn tùy thuộc vào Giám mục (khi nào có thể ban bí tích, cách riêng tại các nơi đồng quê hẻo lánh).

Trong thế kỷ XX, kỷ luật về việc cử hành có vài thay đổi, nếu chưa nói là xáo trộn! Với sắc lệnh Quam singulari (năm 1910), ĐTC Piô X, tuổi rước lễ lần đầu được hạ xuống (khi đến tuổi khôn, được giải thích là lúc lên 7 tuổi). Trước đó, các em phải chờ đến 12 tuổi mới được rước lễ lần đầu. Từ đó vấn đề được đặt ra là: các em sẽ lãnh bí tích nào trước: Rước lễ hay Thêm sức? Hay là cùng một lúc? Đừng quên rằng đàng sau các câu hỏi về tuổi lãnh bí tích, còn có việc chuẩn bị học giáo lý nữa. Dù sao, ta thấy có một sự thay đổi quan trọng trong thứ tự lãnh ba bí tích Khai tâm. Trước đây, chừng độ 6-7 tuổi thì đã được Thêm sức, nhưng phải chờ đến 12 tuổi mới được rước lễ; từ nay, 6-7 tuổi thì được rước lễ, nhưng phải chờ đến 8-9 tuổi mới được Thêm sức. Sau công đồng Vaticanô II, tuổi Thêm sức còn được nâng cao hơn nữa.

Ngoài ra, cũng nên ghi nhận một thay đổi quan trọng trong vấn đề tác viên. Năm 1946, với sắc lệnh Spiritus Sancti munera của Thánh Bộ Kỷ luật các bí tích[9], ĐTC Piô XII ban đặc ân cho một số linh mục được ban bí tích Thêm sức như là tác viên ngoại thường trong trường hợp thiếu vắng Giám mục.

C. Công đồng Vaticanô II và ĐTC Phaolô VI


Một sự thay đổi quan trọng về đạo lý và nghi thức cử hành bí tích Thêm sức được đánh dấu bởi Tông hiến Divinae consortium naturae của ĐTC Phaolô VI ngày 15-8-1971. Tuy nhiên để hiểu rõ ý nghĩa của sự thay đổi này, cần phải đi lùi lại 8 năm trước, với hiến chế Sacrosanctum Concilium (8-12-1963), mở đầu cho các cuộc canh tân phụng vụ của công đồng Vaticanô II.

1. Công đồng Vaticanô II

Trong hiến chế về phụng vụ, số 71, công đồng đã đề ra những định hướng cho việc duyệt lại nghi thức:

Cũng phải duyệt lại nghi thức Thêm Sức để làm sáng tỏ hơn mối tương quan mật thiết của bí tích này với toàn thể nghi lễ gia nhập Kitô giáo. Vì thế, nên lặp lại lời hứa Rửa Tội ngay trước khi nhận lãnh bí tích Thêm Sức. Nếu thuận tiện, có thể cử hành bí tích Thêm Sức trong Thánh Lễ. Còn khi cử hành ngoài Thánh Lễ, phải soạn thảo một công thức để mở đầu nghi lễ.

Những dòng vắn tắt vừa rồi chỉ muốn nhấn mạnh đến mối tương quan chặt chẽ giữa bí tích Thêm sức với các bí tích khai tâm, chứ không đả động đến bản chất hoặc những công hiệu của bí tích. Mối liên hệ giữa Thêm sức với Thánh Tẩy được diễn tả qua việc lặp lại lời cam kết Rửa tội; đối với bí tích Thánh Thể thì khuyến khích cử hành Thêm sức trong Thánh Lễ.

Thực ra bí tích này còn được đề cập trong nhiều văn kiện khác của công đồng, dưới nhiều khía cạnh khác nhau[10], liên quan đến bản chất và hiệu quả của bí tích, cũng như liên quan đến tác viên bí tích, chấp nhận sự khác biệt giữa kỷ luật Giáo hội Latinh và các Giáo hội Đông phương.

- Bí tích Thêm sức trong tiến trình khai tâm Kitô giáo. Ngoài đoạn văn vừa trích trong Hiến chế về Phụng vụ, Công đồng cũng nhắc đến sự liên hệ giữa ba bi tích khai tâm, được thể hiện trong việc cử hành trong cùng một nghi thức. Như sẽ thấy sau, điều này được áp dụng đối với việc gia nhập Kitô giáo của người lớn. Ngoài ra, ba bí tích được cử hành theo thứ tự: Thánh tẩy, Thêm sức, Thánh Lễ (PO 5; LG 11).

- Những công hiệu của bí tích. Công đồng kể ra như sau: những người lãnh bí tích này được liên kết chặt chẽ hơn với Hội thánh, nhận được một sức mạnh của Thánh Thần, khả năng dấn thân làm chứng nhân cho Chúa Kitô (LG 11). Nhiều đoạn văn của công đồng nhấn mạnh đến trách nhiệm của những người được Thêm sức phải làm chứng cho Đức Kitô. Tuy nhiên, nhiệm vụ chứng nhân hay làm tông đồ không được gán riêng cho bí tích Thêm sức cách lẻ loi nhưng cùng với bí tích Thánh Tẩy và thậm chí với bí tích Thánh Thể nữa. Sắc lệnh Ad gentes số 11 viết như sau: “Tất cả các Kitô hữu, dù sống ở bất cứ nơi nào, đều có bổn phận chứng tỏ, bằng gương sáng của đời sống và chứng tá của lời nói, con người mới mà họ đã mặc lấy do bí tích Thánh Tẩy và quyền năng của Thánh Thần mà họ đã được củng cố nhờ bí tích Thêm sức” (xem thêm LG 33). Ở số 36, sắc lệnh viết tiếp: “Tất cả mọi Kitô hữu, như là chi thể của Đức Kitô hằng sống, được tháp nhập và trở nên giống Đức Kitô nhờ phép Thánh Tẩy, Thêm sức và Thánh Thể, có nghĩa vụ cộng tác vào việc phát triển và mở rộng Thân Thể của Người…” Nói cách khác, trách nhiệm và khả năng làm chứng tá bắt nguồn từ các bí tích khai tâm Kitô giáo; và không chỉ từ các bí tích mà thôi nhưng còn từ việc huấn giáo và toàn bộ việc khai tâm nữa (x. AG 13).

- Tác viên. Khác với truyền thống Giáo hội Đông phương, bên Giáo hội Latinh từ thời Trung cổ, việc ban bí tích Thêm sức được dành riêng cho các Giám mục. Nhờ những cuộc nghiên cứu lịch sử cũng như những cuộc đối thoại đại kết, công đồng không gọi các Giám mục là tác viên “thông thường” (minister ordinarius) nhưng là tác viên “nguyên ủy” (originarius) của bí tích Thêm sức (LG 26). Công đồng không giải thích lý do của sự thay đổi này, nhưng ta có thể hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, vào thời nguyên thủy, các Giám mục ban bí tích Thêm sức vì là những người kế vị các thánh Tông đồ; thứ hai, vào thời nay, chính các Giám mục thánh hiến dầu thánh (chrisma hay myron); vì thế tuy các linh mục có thể là tác viên bí tích Thêm sức nhưng phải dùng dầu thánh do Giám mục thánh hiến. Trong sắc lệnh về các Giáo hội Đông phương số 13-14, công đồng Vaticanô II nhìn nhận kỷ luật Đông phương coi các linh mục như là tác viên “thông thường” của bí tích[11].

2. Tông hiến Divinae Divinae consortium naturae

Thông thường, việc ban hành các sách nghi thức cử hành bí tích (được duyệt lại theo ý nguyện của công đồng) được thực hiện qua một sắc lệnh của Hồng y đứng đầu Bộ Phụng tự. Tuy nhiên, có vài trường hợp đặc biệt mà việc ban hành được mở đầu bằng một tông hiến của ĐTC, khi đụng đến một yếu tố căn bản của bí tích (chẳng hạn liên quan đến chất thể và mô thể của bí tích). Đó là trường hợp xảy ra cho bí tích đang bàn. Thật vậy, trong tông hiến Divinae consortium naturae (ngày 15-8-1971), ĐTC Phaolô VI không chỉ trình bày tóm tắt lịch sử và thần học của bí tích, mà còn xác định chất thể và mô thể, cũng như thay đổi công thức cử hành. Ngài tuyên bố rằng:

Bí tích Thêm sức được ban qua việc xức dầu chrisma trên trán, được thực hiện qua việc đặt tay, và qua những lời Accipe signaculum doni Spiritus sancti (Hãy nhận lấy ấn tích ơn Chúa Thánh Thần). Công thức này diễn tả cử chỉ bên ngoài của việc xức dầu như là ấn tích của việc khai tâm và công hiệu của bí tích, đó là thông ban ân huệ Chúa Thánh Thần”.

Do đó, ĐTC xác định việc xức dầu như là dấu chỉ cốt yếu, và đã chọn công thức của Nghi điển Byzantinô (Đông phương). Cử chỉ đặt tay, tuy có nguồn gốc trong Kinh Thánh và được thông dụng bên Tây phương, nhưng không được coi như là cốt yếu của bí tích[12].

Tông hiến tiếp nhận đạo lý của công đồng về bí tích Thêm sức, đồng thời cũng đóng góp thêm vài điểm mới.

1/ Chúa Thánh Thần được lãnh nhận như ân huệ. Công đồng đã nói rằng bí tích Thêm sức liên kết người tín hữu chặt chẽ hơn với Hội thánh, ban thêm một sức mạnh đặc biệt của Chúa Thánh Thần, nhờ đó họ dấn thân hơn để làm chứng nhân (LG 11). Tông hiến khai triển như sau:

Với bí tích Thêm Sức, những người đã được tái sinh trong phép Thánh Tẩy nhận được ân huệ tuyệt vời là chính Chúa Thánh Thần, nhờ đó họ được trang bị bằng một sức mạnh đặc biệt (LG 11), và được ghi dấu ấn của bí tích, họ được gắn bó mật thiết với Hội Thánh (LG 11), và có bổn phận quảng bá và bênh vực, bằng lời nói và việc làm, đức tin của mình như những chứng nhân chân chính của Đức Kitô (LG 11; AG 11). Sau cùng, bí tích Thêm Sức gắn kết với bí tích Thánh Thể (x. PO 5) đến nỗi các tín hữu, đã được ghi dấu do bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, được tháp nhập đầy đủ vào Thân Thể Chúa Kitô nhờ việc tham dự vào bí tích Thánh Thể (x. PO 5).

Do đó công hiệu của bí tích Thêm sức nơi người tín hữu không chỉ ở chỗ họ được trang bị đặc biệt bởi các ân huệ và tác động của Thánh Thần, nhưng là nhận lãnh chính Thánh Thần. Điều này được biểu lộ ngay trong công thức xức dầu “Hãy nhận lãnh dấu chỉ của ơn Chúa Thánh Thần”: không phải là nhận lãnh một ơn do Thánh Thần ban, nhưng nhận lãnh chính Thánh Thần là ân huệ của Thiên Chúa, nhờ Đức Kitô, rồi Thánh Thần đổ xuống các ân huệ và tác động nơi người tín hữu.

Một câu hỏi được đặt ra: vào lúc Rửa tội, người tín hữu đã chẳng lãnh nhận Thánh Thần đó sao? Trả lời: Đúng thế, người tín hữu đã lãnh nhận Thánh Thần, và trở nên đền thờ Chúa Thánh Thần, đã nhận được ơn tha thứ tội lỗi, ơn nên công chính, được làm con cái Thiên Chúa, trở thành chi thể của Đức Kitô và phần tử Hội thánh. Tuy nhiên, trong bí tích Thêm sức, người tín hữu phần nào nhận lãnh Thánh Thần theo một mục tiêu khác. Tông hiến của ĐTC giải thích mối tương quan giữa bí tích Rửa tội và bí tích Thêm sức bằng cách quay về với giáo huấn của các Giáo phụ. Các ngài trình bày tác động của Thánh Thần một cách năng động, khởi đi từ việc Thánh Thần đáp xuống trên Đức Giêsu sau khi lãnh phép rửa ở sông Giorđanô, bắt đầu sứ vụ công khai (Mc 1,20). Kế đó Đức Kitô phục sinh hứa sẽ phái Thánh Thần đến các Tông đồ, Thánh Thần là ân huệ của thời Đấng Mêsia (Ga 14,16; 15,26; Cv 1,8; Lc 24,19); điều này đã xảy ra vào lễ Ngũ Tuần (Cv 2,1-18). Ân huệ này không diễn ra trong giây lát, nhưng Thánh Thần sẽ ở lại với các môn đệ mãi mãi (xc. Ga 14,16). Đây là ân huệ được ban cho các môn đệ thời ấy và thuộc hết mọi thời (xc. Cv 2,39). Kể từ đó, các thánh Tông đồ, tuân theo ý muốn của Đức Kitô, đã thông đạt ân huệ Thánh Thần cho các tân tòng qua việc đặt tay, nhằm bổ túc ơn Thánh Tẩy (Cv 8,15-17; 19,5tt). Điều này giải thích vì sao trong thư gửi Hípri (6,2), tác giả nói đến đạo lý về phép Rửa tội và về việc đặt tay, trong số những yếu tố của việc đào tạo Kitô hữu. Trong việc đặt tay này, truyền thống Công giáo coi như nguồn gốc nguyên thủy của bí tích Thêm sức, ra như phần nào kéo dài trong Hội thánh, ân huệ của Lễ Ngũ Tuần. Như vậy, ta thấy có một chuỗi liên tục: Thánh Thần xuống trên Đức Giêsu sau khi lãnh phép rửa ở sông Giođanô, Thánh Thần xuống trên các môn đệ vào lễ Ngũ Tuần; Thánh Thần xuống trên những người tin và lãnh Phép Rửa vào lễ Ngũ Tuần; Thánh Thần xuống trên những người mà các Tông đồ đặt tay, và Thánh Thần xuống trên những người lãnh bí tích Thêm sức, bởi vì họ phần nào kéo dài ân huệ lễ Ngũ Tuần trong Hội thánh.

Thử hỏi: có gì khác biệt giữa ân huệ Thánh Linh trong bí tích Thêm sức so với bí tích Rửa tội không? Xin thưa rằng sự khác biệt không nằm ở chỗ là trong bí tích Thêm sức, người tín hữu lãnh nhận Thánh Thần lần đầu tiên. Không phải như vậy, người tín hữu đã nhận lãnh Thánh Thần trong bí tích Rửa tội rồi. Trong bí tích Thêm sức, người tín hữu lãnh nhận Thánh Thần để tăng trưởng và thêm vững mạnh nhằm trở thành chứng nhân. Đó là điều mà chúng ta nhận thấy trong việc Thánh Thần xuống trên Đức Kitô vào lúc bắt đầu sứ vụ công khai, trong lễ Ngũ Tuần khi các Tông đồ làm chứng nhân với quyền năng mạnh mẽ (Cv 4,33; 1,8), trong những người được các Tông đồ đặt tay (Cv 8,15-17; 19,1-7).

2/ Trong tương quan với bí tích Thánh Thể. Tông hiến đón nhận giáo huấn của Công đồng và tuyên bố rằng “bí tích Thêm sức gắn liền với bí tích Thánh Thể, cho nên các tín hữu đã được ghi dấu do bí tích Thánh tẩy và Thêm sức, được tháp nhập đầy đủ vào Thân Thể Chúa Kitô nhờ việc tham dự vào bí tích Thánh Thể”. Như vậy, tông hiến nhìn nhận sự tiến triển bí tích khai tâm: Rửa tội – Thêm sức – Thánh Thể; và bí tích Thánh Thể là sự sung mãn và chóp đỉnh của cuộc khai tâm. Bí tích Thêm sức “bổ túc ân sủng của bí tích Rửa tội”, đồng thời, chuẩn bị để tham dự vào bí tích Thánh Thể.

3/ Chức tư tế phổ quát. Tông hiến tuyên bố rằng nhờ bí tích Rửa tội “các tín hữu khởi đầu việc tham gia vào chức tư tế của Chúa Cứu Thế. Do đó, khởi đầu chức tư tế là bí tích Rửa tội”. Tông hiến không minh nhiên nói rằng bí tích Thêm sức “kiện toàn” chức tư tế ấy[13], nhưng xem ra cũng gợi lên ý tưởng đó, khi khẳng định rằng bí tích Thêm sức gắn chặt với bí tích Thánh Thể, và nhờ dấu ấn của bí tích, liên kết với Hội thánh (đoàn dân tư tế) và tăng thêm sức mạnh để làm chứng nhân. Nên lưu ý rằng chức tư tế phổ quát được thi hành chính yếu trong bí tích Thánh Thể, đi theo Chúa Kitô và làm chứng nhân (LG 10).

Chúng tôi không bàn đến Sách Nghi thức bí tích Thêm sức (Ordo confirmationis) được ban hành một tuần lễ sau tông hiến (22-8-1971), bởi vì sẽ được tìm hiểu trong một bài khác của số báo này.

Trong bài này, chúng ta đã theo dõi sự tiến triển thần học về bí tích Thêm sức từ các tác giả thần học kinh viện thời Trung cổ cho đến Huấn quyền vào thế kỷ XX. Việc đúc kết tư tưởng thần học sẽ được trình bày trong một bài khác.

Để kết thúc, chúng tôi xin giới thiệu vắn tắt lược đồ của bí tích trong Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo (1992). Bí tích Thêm sức được đề cập ở các số 1285-1321 (gồm cả tóm lược). Sau nhập đề nhắc lại công hiệu của bí tích dựa theo LG 11, mục này gồm các điểm như sau:

1) Bí tích Thêm sức trong nhiệm cục cứu độ (số 1286-1292). Nền tảng Kinh Thánh và sự tiến triển trong truyền thống.

2) Các dấu chỉ và nghi thức của bí tích Thêm sức (số 1293-1301).

Ý nghĩa của việc xức dầu và đặt tay; công thức. Nghi thức cử hành.

3) Những hiệu quả của bí tích Thêm sức (số 1302-1305). Gia tăng và thấm nhuần sâu xa hơn ân sủng của bí tích Rửa tội. Dấu ấn không thể tẩy xóa.

4) Ai có thể lãnh nhận bí tích Thêm sức? (số 1306—1311).

5) Thừa tác viên bí tích Thêm sức (số 1312-1314).
__________
[1] A. NOCENT, “I tre sacramenti della iniziazione cristiana”, in Anamnesis. Introduzione storico-teologica alla liturgia, Marietti, Genova 1986. V. SAXER, Les rites de l’initiation chrétienne du IIe au VIe siècle. Esquisse historique et signification d’après leurs principaux témoins, Centro italiano di studi sull’alto medioevo, Spoleto [PG] 1988. A. ELBERTI, La confermazione nella tradizione della Chiesa latina, San Paolo, Cinisello Balsamo (MI) 2003.
[2] Chú thích của ban biên tập: xem bài thứ nhất của số báo này.
[3] De sacramentis christianae fidei, trong PL 176, 459-462.
[4] R. Bernier, “Le sacrement de confirmation dans la théologie de saint Thomas”, in Lumière et Vie 51(1961), 59-72.
[5] Nghi thức được du nhập bởi sách Giáo chủ (Pontificale) của Durand de Mende (+1296).
[6] Được trình bày trong tác phẩm De articulis fidei et Ecclesiae sacramentis.
[7] Thực ra, bên Đông phương, tác viên “thông thường” của bí tích là linh mục: ngài xức dầu myron (do Giám mục thánh hiến) cho người đã được rửa tội và đưa họ đến lãnh bí tích Thánh Thể. Cũng nên biết là liên quan đến “chất thể” của bí tích, giữa Đông phương và Tây phương vẫn còn tranh luận giữa quan niệm “xức dầu” hay là “đặt tay”.
[8] P. Stella, “Il Sacramento della Confermazione nel Catechismo ad Parochos (1566),” in: Ephemerides Liturgicae 86 (1972) 2, 182-213.
[9] AAS 38 (1946), 349-354.
[10] SC 71; LG 11, 26, 33; PO 5; AA 3; OE 13, 14; AG 11, 36.
[11] Điều này được đưa vào Bộ Giáo luật các Giáo hội Đông phương 1990, các điều 692-697. Xem thêm Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, các số 1312-1314.
[12] Trong lịch sử thần học Công giáo, đã có nhiều cuộc tranh luận liên quan đến “chất thể” của bí tích: xức dầu hay là đặt tay? Tông hiến nghiêng về việc xức dầu, tuy cũng cố gắng kết hợp với việc đặt tay, được diễn tả qua hai cách thức: một lần đặt tay khẩn cầu Thánh Thần trên tất cả những người sắp lãnh bí tích; chính việc xức dầu (bằng ngón tay trên trán) cũng bao hàm việc đặt tay.
[13] Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo (số 1305) nói rõ hơn rằng: ấn tích của bí tích Thêm sức kiện toàn chức tư tế phổ quát đã lãnh trong bí tích Rửa tội.
Bài đăng cũ hơn
Bài đăng mới hơn Không tìm thấy kết quả nào
//