Bí tích thêm sứcNổi bậtPhụng vụ-Bí tích
Từ ngữ “confirmare” trở thành thông dụng từ thế kỷ thứ V tại các công đồng xứ Gaule (nước Pháp ngày nay)[1], để gọi một nghi thức được đức Giám mục cử hành đối với một người đã được một tác viên khác Rửa tội vào một cơ hội tách biệt. Thực ra, Giám mục là tác viên nguyên thủy của nghi thức Khai tâm. Nhưng nếu một tác viên khác đã Rửa tội vì lý do ứng viên gặp cảnh nguy tử hoặc ở xa nhà thờ chính toà, thì Giám mục sẽ “confirmare” (xác nhận, củng cố) phép rửa. Nếu trước đây các ứng viên đã đi theo một lạc giáo và được khai tâm không chính xác, thì Giám mục sẽ “xác nhận” họ và giao hòa họ với Giáo hội chính truyền. Như vậy, vào lúc đầu, từ ngữ mang ý nghĩa pháp lý, liên quan đến các văn bản do Giám mục ban hành trong việc thực thi chức vụ của mình.
Trong một bài giảng, được xen vào bộ sưu tập mang danh là “Eusebius Gallicanus”, nhưng được đoán là của Đức cha Faustus giám mục Riez (miền nam nước Pháp, khoảng năm 490), từ confirmatio được áp dụng cho một nghi thức xức dầu do Giám mục cử hành sau bí tích Rửa tội, và gắn với ý tưởng “cầu xin Chúa Thánh Thần”. Các tác giả cho rằng bài giảng này thuộc đầu thế kỷ VI.
Các nguồn thần học và phụng vụ thường trưng dẫn hai đoạn văn Tông đồ công vụ 8,14-17 và 19,5-6 như bằng cớ cho thấy bí tích Thêm sức bắt nguồn từ thời các thánh Tông đồ. Trong đoạn thứ nhất, thánh Phêrô và thánh Gioan đặt tay lên một nhóm Kitô hữu ở Samaria đã được Rửa tội, và họ lãnh nhận Chúa Thánh Thần. Trong đoạn thứ hai, thánh Phaolô đặt tay lên 12 người mới nhập đạo Kitô, và Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên họ. Ở đây, thánh Luca giải thích rằng cả nhóm đã nói tiếng lạ và nói tiên tri. Trong cả hai trường hợp, cần có sự can thiệp của các Tông đồ đối với một nhóm người được coi như là chưa được huấn luyện đầy đủ, nhờ thế Thánh Linh được đổ tràn như trước đây đã diễn ra vào lễ Ngũ Tuần. Đoạn văn thư Hip-ri 6,1-2 liên kết các loại phép rửa (ở số nhiều) với nghi thức đặt tay, nhưng mối liên quan giữa các từ ngữ không được rõ rệt[2].
Cũng vào thời ấy, có nhiều đoạn văn khác xem ra không nói đến việc đặt tay sau khi Rửa tội. Thực ra, ở Cv 10,47-48 việc đặt tay và trao ban Thánh Thần đi trước việc Rửa tội. Nhiều trình thuật khác về việc Rửa tội (Cv 2,38–42; 4,4; 8,12–13; 8,36–39; 9,18–19 và 22,16) không đả động gì đến việc đặt tay để trao ban Thánh Thần. Vì thế, khó lập luận rằng các thánh Tông đồ thường xuyên đặt tay lên các người đã Rửa tội, lại càng không thể nói đến việc xức dầu cho họ.
Tân Ước có nói đến việc Đức Giêsu được Thánh Thần xức dầu theo nghĩa biểu tượng (Cv 4,27 và 10,38). Thư gửi Hip-ri 1,9 áp dụng cho Đức Giêsu một thánh vịnh xức dầu phong vương, và Đức Giêsu áp dụng cho mình một đoạn văn nói đến việc xức dầu ngôn sứ (Lc 4,18 trích dẫn Is 61,1). Thánh Phaolô nói đến việc chính ngài và ông Timôthê được xức dầu và lãnh nhận Thánh Thần. Thánh Gioan tông đồ nói đến một việc xức dầu mà cộng đoàn Kitô hữu nhận lãnh, cấp cho họ sự hiểu biết (1Ga 2,20.27). Mặc dù không có đoạn văn nào ghi lại việc Đức Giêsu hoặc các môn đệ được xức dầu, nhưng vài học giả nghĩ rằng tục lệ xức dầu các Kitô hữu có lẽ bắt nguồn từ ngôn ngữ thi phú của các đoạn văn này.
Dù sao, việc soạn thảo nghi thức Rửa tội bao gồm việc xức dầu trước khi Rửa tội, và đôi khi bao gồm việc đặt tay nữa. Điều này đặc biệt được ghi nhận nơi các nghi thức Rửa tội ở Syria vào các thế kỷ III và IV. Sách Didascalia apostolorum 16[3], Recognitions của Mạo-Clementê 3:67[4], Công vụ của Judas Thomas[5], Tiểu sứ ông Gioan, con ông Zêbêđê[6], và Bài giảng 12 của Aphrahat [7] đều nói đến việc xức dầu trước khi Rửa tội. Sau khi công đồng Laođixêa (canon 48)[8] đòi hỏi một việc xức dầu sau khi Rửa tội, thì các nghi thức ở Syria càng giống với các nghi thức ở bên Tây[9].
Một sự thay đổi tương tự như vậy có lẽ cũng đã xảy ra bên Ai-cập, mặc dù các chứng tích của Origène[10], Điđymô Alexandria[11], và Canons of Hippolytus[12] không thuyết phục lắm.
Đang khi đó, các Giáo hội bên Tây phương dần dần phát triển một nghi thức xức dầu sau khi Rửa tội. Những chứng tích đầu tiên được gặp thấy nơi Tertullianô[13] và thánh Cyprianô[14]. Điều này trở thành rõ rệt trong Traditio Apostolica[15] và các tác phẩm của Ambrosiô, Cyrillô, Egeria, Augustinô.
Trong Historia Ecclesiastica[16], Eusebiô kể lại rằng cụ Novatus, đã được Rửa tội bởi một tác viên, nhưng đến khi hồi phục ông đã không nhận lãnh các nghi thức bổ túc, kể cả việc Giám mục xức dầu. Như vậy, ngay từ thế kỷ III, vì lý do nghiêm trọng, các Giám mục có thể kết thúc việc khai tâm chưa đầy đủ vào một cơ hội sau đó. Phải chăng đây là khởi đầu cho nghi thức sẽ được khai triển vào thế kỷ V bên xứ Gaule? Câu hỏi này khó trả lời bởi vì chưa đủ tài liệu.
Việc cử hành phép Thêm sức được phát triển suốt thời Tiền Trung cổ. Một lá thư của Giáo hoàng Innocentê I (401-417) gửi Đức cha Decentius, Giám mục Gubbio (416) đề cập đến tục lệ “xức dầu” (consignatio) những người được Rửa tội để ban Thánh Thần.[17] Đức Innocentê cho phép các linh mục được xức dầu những người mà họ Rửa tội, nhưng không được xức trên trán. Việc xức dầu chrisma trên trán được dành cho Giám mục, dựa theo truyền thống bắt nguồn từ sách Tông đồ công vụ. Lá thư này đã ảnh hưởng đến quyết định bên Tây phương dành việc Thêm sức cho các Giám mục, đang khi các Giáo hội bên Đông vẫn cho phép các linh mục được ban bí tích này.
Sang thế kỷ VI hoặc VII, việc Thêm sức được xuất hiện trong khung cảnh Rửa tội trong Ordo XI[18]. Sau khi Rửa tội, Giám mục ban phép Thêm sức với việc cầu khẩn Thánh Thần rồi xức dầu các ứng sinh. Tài liệu này mô tả các nghi thức khai tâm do Giám mục chủ tọa, và sử dụng từ ngữ (confirmatio) vốn được áp dụng để ám chỉ việc xức dầu biệt lập với việc Rửa tội, để gọi việc Giám mục xức dầu liền sau khi Rửa tội.
Vào thế kỷ IX, các sách Ordo và Sacramentarium thường mô tả các nghi thức khai tâm do Giám mục chủ sự theo diễn tiến từ việc Rửa tội sang việc Thêm sức rồi đến Thánh Thể, tất cả trong cùng một nghi thức, thường diễn ra vào lễ Phục sinh hay lễ Ngũ tuần[19]. Tuổi của các ứng sinh không phải là một vấn đề. Tất cả những người được Rửa tội, dù già hay trẻ, đều được Thêm sức và rước lễ, nếu nghi thức do Giám mục chủ sự. Nếu không có Giám mục, thì linh mục trao Mình Thánh Chúa, và để dành việc Thêm sức cho đến khi nào Giám mục sẵn sàng. Do đó, mặc dù các tài liệu thời Trung cổ gợi ý rằng việc Thêm sức đi sau việc Rửa tội và trước khi rước lễ, nhưng trên thực tế, xem ra việc Thêm sức thường diễn ra một vài năm sau khi rước lễ.
Tuy nhiên, vào thời đó, việc cho các trẻ em rước lễ dần dần biến mất. Vào thế kỷ XIII, bên Tây, điều này trở thành phổ thông. Các Giáo hội bên Đông phương vẫn tiếp tục cho các trẻ em được Thêm sức và rước lễ vào lúc Rửa tội.
Cũng vào thời đó, người ta bắt đầu lo ngại về số những người không bao giờ được Thêm sức. Các Công đồng như Aix-la-Chapelle (836, canon 2)[20] và các văn kiện tựa như Mạo-Decretales[21] nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc Thêm sức, đã cho thấy rằng nhiều người không tham dự nghi thức này. Trong bộ sưu tập giáo luật, đức cha Ruotget, Tổng Giám mục Trier (915–956) đã thúc giục các tín hữu hãy đem con cái đến lãnh bí tích Thêm sức trước khi các em biết phạm tội[22]. Đây có lẽ là văn kiện sớm nhất đề cập đến tuổi để lãnh bí tích Thêm sức.
Những nghi thức sớm nhất về việc cử hành phép Thêm sức biệt lập ra đời vào thế kỷ XI[23].
Năm 1274, công đồng Lyon II đã kể phép Thêm sức vào số bảy bí tích của Hội thánh (DS 860). Cuốn nghi thức được tìm thấy trong những bộ sưu tập những việc chúc lành dành cho Giám mục, và mối tương quan giữa nghi thức này với bí tích Rửa tội chưa được rõ ràng. Mặc dù thời các Giáo phụ, việc đặt tay, khẩn nài Chúa Thánh Thần và xức dầu đều diễn ra trong nghi thức Rửa tội, nhưng về sau, thứ tự này chỉ được thực hành nếu Giám mục có mặt. Như vậy yếu tố duy nhất quyết định cho việc ban phép Thêm sức không phải là tuổi hoặc sự chuẩn bị của các ứng sinh, nhưng là có sẵn Giám mục để cử hành nghi thức hay không. Nghi thức trở thành biệt lập, gắn liền với tác nhân là Giám mục và tác vụ là ban Chúa Thánh Thần cho người đã được Rửa tội.
Nghi thức vẫn còn tiến triển nhưng chỉ liên can đến vài chi tiết, còn bản chất của bí tích đã thành cố định. Sự thay đổi này đã làm nổi lên ba vấn đề: tác viên, tuổi của ứng viên, thứ tự đối với việc rước lễ.
Bên Tây phương, ngay từ lúc ban đầu cũng như suốt quá trình tiến triển, tác viên luôn là Giám mục. Vào lúc đầu, từ ngữ Confirmatio (xác nhận, củng cố) ám chỉ một hành vi nào đó của Giám mục: hoặc xức dầu cho những người đã được Rửa tội bởi một tác viên khác, hoặc xức dầu cho những người trước đây theo lạc giáo và quay về Giáo hội, hoặc khẩn nài Chúa Thánh Linh và xức dầu cho những người mà chính Giám mục đã Rửa tội.
Tuy nhiên, có những chứng tích cho thấy đôi khi các linh mục ban phép Thêm sức, hay là vài cộng đoàn cho rằng những gì tiếp theo việc Rửa tội là không cần thiết. Thí dụ, công đồng Toledo (năm 400) dành riêng việc thánh hóa dầu chrisma cho Giám mục, nhưng cho phép các linh mục được phép dùng dầu ấy để xức (canon 20)[24]. Khoản luật này ngăn cấm các phó tế không được dùng dầu chrisma (hiểu ngầm rằng đã có người lạm dụng). Lá thư của Giáo hoàng Innocentê (đã có dịp nói đến) đã dành riêng việc xức dầu cho Giám mục (hiểu ngầm rằng có những tác viên khác đã lạm quyền). Thư số 9 của Giáo hoàng Gelasius I (492–496) lặp lại điều ngăn cấm này[25]. Những điều này cho thấy rằng vào thế kỷ V, ở vài nơi, các linh mục đã bắt chước tác vụ của Giám mục.
Ở Gaule, công đồng Orange (năm 441) cho phép các linh mục được xức dầu chrisma cho các người lạc giáo trong trường hợp nguy tử. Công đồng cho phép bất cứ linh mục nào Rửa tội cũng được dùng dầu chrisma. Giám mục sẽ không lặp lại việc này khi Thêm sức (can.1–2)[26]. Công đồng Epaone (năm 517) lặp lại các linh mục được phép xức dầu chrisma cho các người lạc giáo (canon 16)[27], nhưng công đồng Paris II (năm 573) đã dành việc xức dầu cho các Giám mục[28].
Bên Ý, một cuốn tiểu sử thánh Silvester (thế kỷ VI) nói rằng các linh mục xức dầu chrisma khi Rửa tội cho những người sắp chết[29]. Giáo hoàng Grêgôriô tuyên bố rằng các linh mục không được phép xức dầu chrisma trên trán khi Rửa tội[30]. Thế nhưng, vào năm 594, ngài cho phép các linh mục ở Sardegna được tiếp tục tập quán ấy[31]. Nhưng khi viết thư cho các Giám mục ở Sicilia, ngài cấm các phó tế xức dầu chrisma[32].
Ở Tây Ban Nha, công đồng Braga II (năm 572) chỉ cấm các linh mục xức dầu khi Giám mục hiện diện (canon 52)[33]. Công đồng Barcelona II (năm 599) giả thiết rắng các linh mục xức dầu chrisma (canon 2)[34]. Năm 619, do ảnh hưởng của Rôma, công đồng Sevilla II quy định rằng các linh mục không được xức dầu chrisma trên trán cũng như không được đặt tay và khẩn nài Thánh Thần (canon 7)[35]. Ildephonsô chủ trương rằng chỉ các Giám mục mới có thể xức dầu những người mới đượe rửa tội[36]. Dù vậy, Braulio Saragoza (sau năm 651) cho rằng các linh mục có thể xức dầu[37].
Bên Anh, thánh Bêđa nói rằng thánh Augustinô (Canterbury) đòi các tân tòng địa phương phải “bổ túc” việc Rửa tội[38] - có lẽ muốn nói đến việc Giám mục ban phép Thêm sức[39], nhưng cũng có người giải thích rằng các cộng đồng địa phương không cảm thấy sự cần thiết của phép Thêm sức sau khi Rửa tội.
Nhiều Sách Lễ từ cuối thế kỷ VII đến thế kỷ IX có mô tả vai trò của linh mục trong các nghi thức Rửa tội[40]. Bởi vì không thấy đả động đến việc Giám mục ban phép Thêm sức, cho nên có thể suy đoán rằng các linh mục cử hành tất cả mọi nghi thức. Sách Liber ordinum episcopalis bên Tây Ban Nha năm 1072[41] cho thấy linh mục xức dầu chrisma trên trán người được Rửa tội, một tập tục vốn được chấp nhận trước đó trong lịch sử Tây Ban Nha.
Vấn đề tác viên bí tích trở nên trầm trọng hơn khi mà các Giám mục gặp khó khăn trong nhiệm vụ cử hành phép Thêm sức. Thánh Bonifaxiô (k. 680–k. 754) yêu cầu các Giám mục hãy kinh lý giáo phận ít là mỗi năm một lần để ban phép Thêm sức[42]. Hoàng đế Charlemagne nhắc lại điều đó vào năm 769[43], cũng như công đồng Chelsea năm 787 (canon 3)[44]. Tất cả những lời nhắc nhở được lặp lại vào các thế kỷ sau, cho thấy các Giám mục gặp khó khăn trong việc ban phép Thêm sức theo như lời yêu cầu.
Trong suốt thế kỷ XX, các trường hợp linh mục ban bí tích Thêm sức tăng dần. Năm 1929, Giáo hoàng Piô XI cấp cho các Giám mục Mỹ châu Latinh quyền được chỉ định vài linh mục để trợ giúp lúc cử hành bí tích (AAS 21 [1929] 555). Năm 1947 Thánh bộ Truyền Bá Đức Tin (Truyền giáo) cho phép các Giám mục ở lãnh thổ truyền giáo được cấp năng quyền cho tất cả các linh mục được ban phép Thêm sức lúc Rửa tội (AAS 40:41). Điều này mở ra một tập tục ở vài nơi ban phép Thêm sức cho các thiếu nhi. Năm 1946, Thánh bộ Kỷ luật các bí tích cho phép các linh mục được ban phép Thêm sức cho người lớn và trẻ nhỏ trong trường hợp nguy tử (AAS 38 [1946] 350–357 passim). Sau công đồng Vaticanô II, Nghi thức Khai tâm cho người lớn và Bộ giáo luật 1983 (canon 883 §2 và. 885 §2) buộc các linh mục ban phép Thêm sức khi Rửa tội cho người lớn hoặc các thiếu nhi ở tuổi học giáo lý. Nghi thức Thêm sức cho phép vài linh mục được ban bí tích này khi con số ứng viên quá đông. Mặc dù theo giáo luật (canon 882), Giám mục là tác viên thông thường của bí tích, nhưng số trường hợp các linh mục được ban bí tích này đã tăng thêm.
Lịch sử về tuổi để lãnh phép Thêm sức còn thay đổi nhiều hơn nữa. Như đã nói trên, Hội thánh thời các giáo phụ không liên kết tuổi của ứng sinh lãnh bí tích Thêm sức với cơ hội cử hành. Cơ hội cử hành được đặt ra là Giám mục có sẵn sàng hay không.
Sang thời Trung cổ, các nhà thần học mới bắt đầu móc nối tuổi thiếu nhi với phép Thêm sức. Bí tích được giải thích như là “Thêm sức” (tăng cường nghị lực) để đương đầu với những cuộc chiến đấu trên đời. Ông Gratianô viết. “Nhờ phép Rửa tội, chúng ta được tái sinh vào sự sống, và nhờ phép Thêm sức, chúng ta được củng cố để chiến đầu. Trong phép Rửa tội, chúng ta được thanh luyện; sau khi được Rửa tội, chúng ta được tăng thêm nghị lực”[45]. Danh từ confirmatio đã thay đổi ý nghĩa. Vào lúc đầu, nó ám chỉ hành vi của Giám mục “xác nhận” (hay khẳng định) việc Rửa tội của người khác, dần dần nó có nghĩa là tăng Thêm sức mạnh cho những người còn non nớt trong đời sống thiêng liêng. Có lẽ Giám mục Otto Bamberg (sau năm 1168) là người đầu tiên đề nghị ban phép Thêm sức cho những người trưởng thành[46], nhưng nói chung, người ta nghĩ là nên ban ở tuổi thấp hơn. Với việc giải thích ý nghĩa của bí tích như vậy, việc cử hành càng hoãn lại sau thời ấu nhi.
Trong thế kỷ XIII, nhiều ý kiến nảy ra chung quanh tuổi Thêm sức. Một ý kiến chủ trương trước 7 tuổi[47]. Công nghị Cologne (năm 1280) lần đầu tiên ấn định vào 7 tuổi hay muộn hơn[48]. Nhiều công đồng khác chấp nhận tuổi cao hơn. Sách Giáo lý của Công đồng Trentô (năm 1566) viết rằng: “Không ích lợi lắm khi phép Thêm sức được ban cho các thiếu nhi trước khi biết sử dụng trí khôn. Nếu xét là không nên chờ đến 12 tuổi, thì chắc chắn tuổi thích hợp cho bí tích này là 7 tuổi” (2:3)[49].
Đang khi đó, tuổi để rước lễ lần đầu được hạ xuống. Việc cho các ấu nhi rước lễ (trước đây diễn ra vào lúc Rửa tội) đã bị ngăn cấm. Có nhiều ý kiến được đưa ra liên quan đến việc rước lễ lần đầu, nhưng nói chung, người ta cho rằng từ 10 đến 12 tuổi. Dần dần, tuổi ấy được nâng lên ở vài nơi, cho đến đầu thế kỷ XII thì mới lật ngược xuống 7 tuổi với sắc lệnh Quam singulari của Thánh bộ Kỷ luật các bí tích vào năm 1910[50]. Mặc dù sắc lệnh không trực tiếp đề cập đến tuổi Thêm sức, nhưng tự nhiên đặt ra cho các tác viên mục vụ nhiều câu hỏi: nếu cả ba bí tích đều được đặt vào lúc 7 tuổi (Xưng Tội, Thêm sức, Rước Lễ lần đầu): thì phải theo thứ tự như thế nào?
Bộ giáo luật 1917 tìm cách trả lời. Nhà lập pháp đề nghị ban bí tích Thêm sức vào lúc 7 tuổi, và yêu cầu các Giám mục hãy rảo khắp giáo phận trong vòng 5 năm một lần, và mặc nhiên chấp nhận tuổi Thêm sức là từ 7 cho đến 12. Năm 1934, Thánh bộ các bí tích tuyên bố rằng những cơ hội ban bí tích sớm hơn là trường hợp nguy tử và không thể gặp Giám mục được[51]. Năm 1952, Ủy ban Giáo hoàng giải thích giáo luật quy định rằng không Giám mục nào được phép ngăn cấm ban bí tích Thêm sức cho các em chưa đến 10 tuổi[52]. Tuy nhiên, vào hậu bán thế kỷ XX, nhiều giáo phận trên thế giới bắt đầu tăng tuổi Thêm sức, mặc dù luật phổ quát quy định vào 7 tuổi hay vào tuổi nào do Hội đồng Giám mục ấn định.
Việc nâng tuổi Thêm sức xem ra gắn liền với mối quan tâm huấn giáo. Với việc hạ thấp tuổi rước lễ lần đầu Giáo hội mất đi một cuộc cử hành bí tích để đồng hành với các thiếu nhi đang trưởng thành và đang ở tuổi học hành. Bí tích Thêm sức, vốn được giải thích từ thời Trung cổ như là bí tích “tăng cường”, được dân gian giải thích như là bí tích cam kết (dấn thân) với Giáo hội. Những người được Rửa tội lúc thơ nhi được mời gọi tuyên xưng đức tin của mình cách có ý thức.
Rôma không bao giờ ủng hộ ý kiến ấy và thậm chí còn tỏ ra dè dặt nữa: “Mặc dù bí tích Thêm sức đôi khi được gọi là ‘bí tích của sự trưởng thành Kitô hữu’, nhưng chúng ta đừng nên lẫn đức tin trưởng thành với tuổi trưởng thành tự nhiên, cũng đừng quên rằng ơn Rửa tội là một hồng ân tuyển chọn không do công trạng, và không cần phải “xác nhận” thì mới sinh công hiệu”[53]. Năm 1999, Bộ Phụng Tự chấp thuận một kháng cáo của gia đình một em bé 11 tuổi, xin được lãnh bí tích Thêm sức ơ tuổi thấp hơn quy định của giáo phận[54]. Dù vậy, số người được lãnh phép Thêm sức vào tuổi trưởng thành đã ảnh hưởng đến quan niệm bình dân cho rằng bí tích này là nghi lễ dấn thân cho Giáo hội Công giáo.
Một vấn đề nảy lên trong lịch sử bí tích Thêm sức là mối liên hệ với việc rước lễ lần đầu. Điều này mới nổi lên từ cuối thế kỷ XX, nhưng khi nhìn lại, nó giúp cho ta thấy quan niệm về bí tích này trải qua lịch sử.
Trước thế kỷ XIX, ít thấy tỏ ra mối bận tâm với thứ tự các bí tích. John Peckam in 1279[55], York Manual (thế kỷ XIV hoặc XV[56], và Salisbury Manual (năm 1543)[57] muốn rằng phép Thêm sức đi trước rước lễ, có lẽ vì muốn cổ động bí tích Thêm sức. Quy chế công nghị Saint-Paul-Trois-Châteaux (năm 1751) ước mong bí tích Thêm sức đi sau việc rước lễ lần đầu[58], đang khi quy chế công nghị Valence bên Pháp (năm 1727) không chấp nhận cho người chưa Thêm sức được rước lễ lần đầu[59].
Sang thế kỷ XIX, các ý kiến bất đồng. Các công đồng Tours (1849)[60], Avignon (1849)[61], Sens (1850)[62], Rouen (1850)[63], Auch (1851)[64], Prague V (1860)[65], Mende (1863)[66], và Utrecht (1865)[67] muốn cho việc rước lễ đi trước việc Thêm sức vì những lý do thiêng liêng, truyền thống và huấn giáo. Tuy nhiên, Rôma lại thích thứ tự trái ngược. Năm 1854, Thánh bộ Công đồng lật ngược thứ tự trong La Réunion 9[68] , và vào năm 1873 quyết định tương tự cũng được ban hành cho giáo tỉnh Algers ở Bắc Phi[69]. Năm 1897 một lá thư của ĐGH Lêo XIII khuyến khích Giám mục Marseilles hãy đưa phép Thêm sức lên trước việc rước lễ lần đầu[70]. Quy chế của Lyon (1899) và của Paris (1902) cũng đặt phép Thêm sức trước việc rước lễ[71]. Năm 1913 công nghị Laval bên Pháp đã lật ngược lại thứ tự của thói quen trước đây và đặt phép Thêm sức trước khi rước lễ[72]. Quy chế của Limoges cũng thay đổi theo hướng đó vào năm 1948[73]. Năm 1932, Thánh bộ các Bí tích trao đổi thư từ với các giáo phận Tây Ban Nha, cho thấy rằng 7 tuổi để lãnh bí tích Thêm sức không những là tối thiểu mà còn là lý tưởng nữa[74].
Không có quyết định nào chịu ảnh hưởng bởi vấn đề Rửa tội. Tất cả đều muốn trung thành với tập quán trước đây. Giáo hội đã có một lịch sử lâu đời về việc cho rước lễ lần đầu trước khi lãnh bí tích Thêm sức, nhưng đến khi Rôma can thiệp thì thứ tự bị lật ngược.
Trong thế kỷ XX, một cơ hội đặt lại thứ tự của hai bí tích này là Nghi thức Khai tâm người trưởng thành, móc nối việc cử hành và ý nghĩa của việc Thêm sức với bí tích Rửa tội. Bên Đông phương, việc Thêm sức thánh hiến người Rửa tội để thông dự Thánh Thể. Điều này cũng xảy ra đối với những người đã được ở các Giáo hội khác và được tiếp nhận vào Giáo hội Công giáo. Việc Thêm sức dẫn tới sự hiệp thông Thánh Thể.
Từ đó, có nơi bắt dầu cử hành phép Thêm sức hoặc trước hoặc cùng với việc rước lễ, kể cả đối với các thiếu nhi. Mặc dù điều này không hoàn toàn mới lạ, nhưng nó cho thấy một sự tiến triển nữa trong lịch sử của bí tích. Sự tiến triển này không nằm ở thứ tự Thêm sức trước khi Rước lễ (điều đã có tiền lệ), nhưng thứ tự được áp dụng biệt lập khỏi việc Rửa tội và vào những lúc khác nhau. Thứ tự Thêm sức trước khi rước lễ có điểm tích cực, nhưng lại đặt ra vấn đề: tại sao lại tách việc Thêm sức khỏi việc Rửa tội?
Bí tích Thêm sức là một ân huệ của Chúa Thánh Thần hướng người được Rửa tội đến sứ vụ. Việc khảo sát các bản văn của nghi thức Thêm sức đưa đến kết luận này. Bí tích được ban với những lời: “T…, hãy lãnh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”. Nhiều bản văn phụng vụ nhắc nhở người lãnh bí tích rằng ân huệ này được ban với một kỳ vọng là sẽ được sử dụng để phục vụ Hội thánh và thế giới.
1/ Tác động của Chúa Thánh Thần được diễn tả qua những lời vừa nói kèm theo các cử chỉ. ĐTC Phaolô VI đã tuyên bố minh thị trong tông huấn Divinae consortium naturae rằng: “Bí tích Thêm sức được ban qua việc xức dầu chrisma trên trán, diễn ra qua việc đặt tay, và qua những lời ‘Accipe Signaculum Doni Spiritus Sancti’”. Tác động của Chúa Thánh Thần được diễn tả qua việc đặt tay và việc xức dầu. Việc đặt tay nói lên lời khẩn nài Thánh Thần xuống trên các ứng sinh. Việc xức dầu nói việc đóng ấn và quyền năng bền vững của Thánh Thần. Nó thánh hiến ứng sinh để thi hành thách đố của Tin Mừng. Theo truyền thống, dầu chrisma được pha trộn giữa dầu oliu với dầu thơm, nhưng ngày nay có thể dùng bất cứ dầu thảo mộc nào pha trộn với dầu thơm. Chỉ Giám mục mới có quyền thánh hiến dầu chrisma. Dầu này được dùng trong bí tích Rửa tội cho ấu nhi, bí tích Thêm sức, bí tích Truyền Chức Linh mục và Giám mục, và trong việc xức dầu bàn thờ và tường nhà thờ. Nó hàm chứa tác vụ hợp nhất của Giám mục.
2/ Bên cạnh chiều hướng Chúa Thánh Thần, bí tích Thêm sức cũng làm cho các ứng sinh liên kết chặt chẽ hơn với Đức Kitô[75]. Danh xưng Kitô (Christus) có nghĩa là Kẻ được xức dầu, và bí tích Thêm sức ban cho ứng sinh được chia sẻ vào việc xức dầu này của Đức Giêsu, nghĩa là sứ vụ mang Tin Mừng cho người nghèo (Lc 4,18).
3/ Bí tích Thêm sức cũng làm cho mối dây liên kết với Hội thánh thêm hoàn thiện[76]. Mối liên kết này đã được thiết lập trong bí tích Rửa tội, trở nên chặt chẽ hơn nhờ ân huệ Thánh Thần. Bí tích này đòi buộc các ứng sinh phải truyền bá đức tin bằng lời nói và việc làm (LG 11).
4/ Bí tích Thêm sức ghi ấn tích giống như bí tích Rửa tội và Truyền chức thánh. Vì thế bí tích chỉ được ban một lần mà thôi[77]. Xét dưới khía cạnh giáo luật, bí tích này mang theo vài đặc ân. Những ai chưa lãnh bí tích thêm sứ thì không thể làm người đỡ đầu (874/3), gia nhập đời tu (645/1), gia nhập chủng viện (241/2) hoặc chịu chức thánh (1033). Bí tích Thêm sức cần thiết để cho việc khai tâm Kitô hữu được đầy đủ (842/2).
Ý nghĩa của bí tích Thêm sức quen được liên kết với ba khái niệm: khai tâm, trưởng thành, lãnh nhận hiệp thông. Vai trò khai tâm của bí tích Thêm sức được biểu lộ rõ ràng khi được cử hành cùng với bí tích Rửa tội trong Nghi thức khai tâm Kitô hữu cho người lớn, trong nghi thức Rửa tội bên Đông phương, và trường hợp Rửa tội cho các ấu nhi trong cơn nguy tử. Bí tích mang tính trưởng thành khi được tách rời khỏi bí tích Rửa tội, bất kể tuổi của ứng viên. Cần phải thi hành một vài sự chuẩn bị, và việc cử hành được hoãn lại cho tới khi ứng sinh có khả năng lặp lại các cam kết lúc Rửa tội (Bộ Giáo luật, đ. 889 §2). Bí tích Thêm sức được coi như đón nhận vào hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội Công giáo trong trường hợp một người đã được Rửa tội trong các Giáo hội khác: họ phải tuyên xưng đức tin và lãnh bí tích Thêm sức.
Nghi thức Thêm sức, được duyệt lại theo ý định của công đồng Vaticanô II, đã được ĐTC Phaolô VI công bố vào ngày 15-8-1971 với tông hiến Divinae consortium naturae. Ngoài những văn kiện pháp lý, nghi thức dự trù nhiều cách thức cử thành: 1/ Trong Thánh lễ; 2/ Ngoài Thánh lễ; 3/ Nghi thức do một linh mục cử hành; 4/ Trong trường hợp nguy tử.
Nguồn mạch của các bản văn thuộc về nhiều giai đoạn khác nhau của lịch sử Giáo hội. Sách Traditio Apostolica (thế kỷ III-IV) cung cấp hai lần xức dầu chrisma sau khi Rửa tội. Lần xức dầu thứ hai, do Giám mục thi hành trước Thánh lễ, là một nguồn quan trọng về sự tiến triển của nghi thức Thêm sức. Thư của Giáo hoàng Innocentê gửi Giám mục Decentius (Tk. V) nói rõ việc xức dầu trên trán với dấu thánh giá. Ordo XI (Tk. VI) và Sacramentarium Gelasianum[78] (tk VIII) đã cung cấp nhiều bản văn có ý nghĩa cho nghi thức, trong đó có lời nguyện xin bảy ơn Thánh Thần, lấy lại của thánh Ambrosiô[79]. Một lời nguyện trích từ Sacramentarium Reichnau (Tk. X) "Deus, qui apostolis tuis,"[80] được thích nghi và dùng kết thúc lời nguyện giáo dân.
Về sau, nhiều chi tiết đã được thêm vào. Durand đã thay thế việc đặt tay lên đầu các ứng sinh với một cử chỉ lấy từ nghi thức tấn phong hiệp sĩ: Giám mục vả vào má ứng sinh, muốn nói rằng họ phải sẵn sàng chịu đựng gian khổ vì Tin Mừng[81]. Giáo hoàng Bêneđictô XIV đề nghị Giám mục đặt tay lên đầu ứng sinh khi xức dầu, như vậy gắn liền việc đặt tay với việc xức dầu[82]. Giáo hoàng Phaolô VI thay đổi các lời đi kèm theo việc xức dầu. Trước Vaticanô II, những lời ấy như sau: “Cha xức dầu và thêm xức cho con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Bản văn mới giống với nghi thức xức dầu bên Đông phương, nêu bật vai trò của Thánh Thần hơn là của Giám mục.
Nghi thức diễn ra rất đơn giản. Sau phụng vụ Lời Chúa, các ứng sinh được giới thiệu. Trong bài giảng, Giám mục giúp hiểu sâu hơn bí tích Thêm sức. Tiếp đó là lặp lại những lời cam kết lúc Rửa tội, với phần đầu của câu hỏi thứ ba được quảng diễn như sau: Con có tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa, Đấng ban sự sống, Đấng mà hôm nay nhờ bí tích Thêm sức các con sẽ lãnh nhận một cách đặc biệt, như các tông đồ xưa trong ngày người hiện xuống không? Sau giây phút thinh lặng, Giám mục (và các linh mục hiện diện) giơ tay hướng về các ứng sinh đang khi Giám mục hát kinh nguyện xin bảy ơn Chúa Thánh Thần. Sau đó, các ứng sinh được xức dầu chrisma lên trán. Tiếp theo là lời nguyện giáo dân. Nếu lễ nghi diễn ra trong Thánh lễ, thì bước sang Phụng vụ Thánh Thể. Nghi thức kết thúc với việc ban phép lành.
Hai chương đầu mô tả nghi thức trong và ngoài Thánh lễ. Chương ba mô tả nghi thức do một linh mục chủ sự, nhưng thực ra chỉ quy chiếu vào những chương trước, bởi vì không có gì khác biệt. Thông thường, chủ sự của bí tích (tách rời khỏi việc Rửa tội) là Giám mục, nhưng ngài có thể chỉ định các linh mục thay thế hoặc cùng kết hợp với mình trong buổi lễ. Chương bốn đề cập đến trường hợp nguy tử. Giám mục và linh mục có thể cử hành tất cả các nghi thức nói trên, hoặc theo một hình thức rút gọn chỉ gồm việc đặt tay, kinh nguyện xin bảy ơn Chúa Thánh Thần, và xức dầu chrisma. Trong trường hợp cực kỳ nguy cấp, chỉ cần xức dầu và đọc : “T…, hãy lãnh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”. Chương năm gồm những bản văn khác có thể chọn lựa: các lời nguyện, các lời chúc lành, các bài Sách Thánh.
Để có thể lãnh bí tích này, đương sự phải là người chưa hề lãnh bí tích, được chuẩn bị, có khả năng lặp lại các lời cam kết rửa tội. Nên chọn người đỡ đầu đã có lúc rửa tội (Bộ Giáo luật, đ. 893 §2). Mặc dù không nói đến việc chọn một tên thánh khác cho việc thêm sức, nhưng nhiều nơi vẫn duy trì tập tục này.
Một số Giáo hội Cải cách cũng có nghi thức Thêm sức (có khi được gọi là “khẳng định việc Rửa tội”), nhưng không coi đó như là bí tích. Giáo hội Anh giáo dành việc cử hành phép Thêm sức cho Giám mục. Các Giáo hội Đông phương cử hành phép Thêm sức cùng với việc Rửa tội (kể cả đối với các ấu nhi). Giáo hội Latinh nhìn nhận giá trị phép Thêm sức của tất cả các Giáo hội Đông phương, cả Chính thống cũng như Công giáo.
[1] Các công đồng Riez (CChr.SL 148:67–68), Orange (CChr.SL 148:78), Arles III (CChr.SL 148:133).
SỰ TIẾN TRIỂN NGHI THỨC PHỤNG VỤ VÀ THẦN HỌC VỀ BÍ TÍCH THÊM SỨC
0
Thời sự Thần học - Số 104, tháng 05/2024, tr. 13-36
@ Paul Turner
I. Nguồn gốc từ ngữ confirmare, confirmatio.
II. Sự tiến triển lịch sử: 1) Tân Ước. 2) Thời các giáo phụ. 3) Thời Trung cổ.
III. Những vấn đề được đặt ra: 1) Tác viên; 2) Tuổi lãnh nhận bí tích; 3) Tương quan với việc rước lễ lần đầu.
IV. Thần học. V. Phụng vụ.
VI. Quan điểm của các Giáo hội khác.
Nguồn: “Confirmation”, in: New Catholic Encyclopedia, 2nd ed., Vol.IV, The Catholic University of America 2003, tr. 84-92.Về dịch thuật: Trong bài này, khi nói đến “xức dầu” thì hiểu về “xức dầu chrisma” chứ không hiểu về xức dầu bệnh nhân. Bí tích được gọi là “phép Thêm sức” theo thói quen trong tiếng Việt; trong tiếng Latinh, confirmatio mang ý nghĩa khác (xác nhận, củng cố), như sẽ thấy sau đây.
Viết tắt: GLCG = Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo.
I. Nguồn gốc các từ “confirmare” (động từ) và “confirmatio” (danh từ)
Từ ngữ “confirmare” trở thành thông dụng từ thế kỷ thứ V tại các công đồng xứ Gaule (nước Pháp ngày nay)[1], để gọi một nghi thức được đức Giám mục cử hành đối với một người đã được một tác viên khác Rửa tội vào một cơ hội tách biệt. Thực ra, Giám mục là tác viên nguyên thủy của nghi thức Khai tâm. Nhưng nếu một tác viên khác đã Rửa tội vì lý do ứng viên gặp cảnh nguy tử hoặc ở xa nhà thờ chính toà, thì Giám mục sẽ “confirmare” (xác nhận, củng cố) phép rửa. Nếu trước đây các ứng viên đã đi theo một lạc giáo và được khai tâm không chính xác, thì Giám mục sẽ “xác nhận” họ và giao hòa họ với Giáo hội chính truyền. Như vậy, vào lúc đầu, từ ngữ mang ý nghĩa pháp lý, liên quan đến các văn bản do Giám mục ban hành trong việc thực thi chức vụ của mình.
Trong một bài giảng, được xen vào bộ sưu tập mang danh là “Eusebius Gallicanus”, nhưng được đoán là của Đức cha Faustus giám mục Riez (miền nam nước Pháp, khoảng năm 490), từ confirmatio được áp dụng cho một nghi thức xức dầu do Giám mục cử hành sau bí tích Rửa tội, và gắn với ý tưởng “cầu xin Chúa Thánh Thần”. Các tác giả cho rằng bài giảng này thuộc đầu thế kỷ VI.
II. Sự tiến triển lịch sử
A. Tân Ước
Các nguồn thần học và phụng vụ thường trưng dẫn hai đoạn văn Tông đồ công vụ 8,14-17 và 19,5-6 như bằng cớ cho thấy bí tích Thêm sức bắt nguồn từ thời các thánh Tông đồ. Trong đoạn thứ nhất, thánh Phêrô và thánh Gioan đặt tay lên một nhóm Kitô hữu ở Samaria đã được Rửa tội, và họ lãnh nhận Chúa Thánh Thần. Trong đoạn thứ hai, thánh Phaolô đặt tay lên 12 người mới nhập đạo Kitô, và Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên họ. Ở đây, thánh Luca giải thích rằng cả nhóm đã nói tiếng lạ và nói tiên tri. Trong cả hai trường hợp, cần có sự can thiệp của các Tông đồ đối với một nhóm người được coi như là chưa được huấn luyện đầy đủ, nhờ thế Thánh Linh được đổ tràn như trước đây đã diễn ra vào lễ Ngũ Tuần. Đoạn văn thư Hip-ri 6,1-2 liên kết các loại phép rửa (ở số nhiều) với nghi thức đặt tay, nhưng mối liên quan giữa các từ ngữ không được rõ rệt[2].
Cũng vào thời ấy, có nhiều đoạn văn khác xem ra không nói đến việc đặt tay sau khi Rửa tội. Thực ra, ở Cv 10,47-48 việc đặt tay và trao ban Thánh Thần đi trước việc Rửa tội. Nhiều trình thuật khác về việc Rửa tội (Cv 2,38–42; 4,4; 8,12–13; 8,36–39; 9,18–19 và 22,16) không đả động gì đến việc đặt tay để trao ban Thánh Thần. Vì thế, khó lập luận rằng các thánh Tông đồ thường xuyên đặt tay lên các người đã Rửa tội, lại càng không thể nói đến việc xức dầu cho họ.
Tân Ước có nói đến việc Đức Giêsu được Thánh Thần xức dầu theo nghĩa biểu tượng (Cv 4,27 và 10,38). Thư gửi Hip-ri 1,9 áp dụng cho Đức Giêsu một thánh vịnh xức dầu phong vương, và Đức Giêsu áp dụng cho mình một đoạn văn nói đến việc xức dầu ngôn sứ (Lc 4,18 trích dẫn Is 61,1). Thánh Phaolô nói đến việc chính ngài và ông Timôthê được xức dầu và lãnh nhận Thánh Thần. Thánh Gioan tông đồ nói đến một việc xức dầu mà cộng đoàn Kitô hữu nhận lãnh, cấp cho họ sự hiểu biết (1Ga 2,20.27). Mặc dù không có đoạn văn nào ghi lại việc Đức Giêsu hoặc các môn đệ được xức dầu, nhưng vài học giả nghĩ rằng tục lệ xức dầu các Kitô hữu có lẽ bắt nguồn từ ngôn ngữ thi phú của các đoạn văn này.
B. Thời các giáo phụ
Dù sao, việc soạn thảo nghi thức Rửa tội bao gồm việc xức dầu trước khi Rửa tội, và đôi khi bao gồm việc đặt tay nữa. Điều này đặc biệt được ghi nhận nơi các nghi thức Rửa tội ở Syria vào các thế kỷ III và IV. Sách Didascalia apostolorum 16[3], Recognitions của Mạo-Clementê 3:67[4], Công vụ của Judas Thomas[5], Tiểu sứ ông Gioan, con ông Zêbêđê[6], và Bài giảng 12 của Aphrahat [7] đều nói đến việc xức dầu trước khi Rửa tội. Sau khi công đồng Laođixêa (canon 48)[8] đòi hỏi một việc xức dầu sau khi Rửa tội, thì các nghi thức ở Syria càng giống với các nghi thức ở bên Tây[9].
Một sự thay đổi tương tự như vậy có lẽ cũng đã xảy ra bên Ai-cập, mặc dù các chứng tích của Origène[10], Điđymô Alexandria[11], và Canons of Hippolytus[12] không thuyết phục lắm.
Đang khi đó, các Giáo hội bên Tây phương dần dần phát triển một nghi thức xức dầu sau khi Rửa tội. Những chứng tích đầu tiên được gặp thấy nơi Tertullianô[13] và thánh Cyprianô[14]. Điều này trở thành rõ rệt trong Traditio Apostolica[15] và các tác phẩm của Ambrosiô, Cyrillô, Egeria, Augustinô.
Trong Historia Ecclesiastica[16], Eusebiô kể lại rằng cụ Novatus, đã được Rửa tội bởi một tác viên, nhưng đến khi hồi phục ông đã không nhận lãnh các nghi thức bổ túc, kể cả việc Giám mục xức dầu. Như vậy, ngay từ thế kỷ III, vì lý do nghiêm trọng, các Giám mục có thể kết thúc việc khai tâm chưa đầy đủ vào một cơ hội sau đó. Phải chăng đây là khởi đầu cho nghi thức sẽ được khai triển vào thế kỷ V bên xứ Gaule? Câu hỏi này khó trả lời bởi vì chưa đủ tài liệu.
C. Từ thời Trung cổ
Việc cử hành phép Thêm sức được phát triển suốt thời Tiền Trung cổ. Một lá thư của Giáo hoàng Innocentê I (401-417) gửi Đức cha Decentius, Giám mục Gubbio (416) đề cập đến tục lệ “xức dầu” (consignatio) những người được Rửa tội để ban Thánh Thần.[17] Đức Innocentê cho phép các linh mục được xức dầu những người mà họ Rửa tội, nhưng không được xức trên trán. Việc xức dầu chrisma trên trán được dành cho Giám mục, dựa theo truyền thống bắt nguồn từ sách Tông đồ công vụ. Lá thư này đã ảnh hưởng đến quyết định bên Tây phương dành việc Thêm sức cho các Giám mục, đang khi các Giáo hội bên Đông vẫn cho phép các linh mục được ban bí tích này.
Sang thế kỷ VI hoặc VII, việc Thêm sức được xuất hiện trong khung cảnh Rửa tội trong Ordo XI[18]. Sau khi Rửa tội, Giám mục ban phép Thêm sức với việc cầu khẩn Thánh Thần rồi xức dầu các ứng sinh. Tài liệu này mô tả các nghi thức khai tâm do Giám mục chủ tọa, và sử dụng từ ngữ (confirmatio) vốn được áp dụng để ám chỉ việc xức dầu biệt lập với việc Rửa tội, để gọi việc Giám mục xức dầu liền sau khi Rửa tội.
Vào thế kỷ IX, các sách Ordo và Sacramentarium thường mô tả các nghi thức khai tâm do Giám mục chủ sự theo diễn tiến từ việc Rửa tội sang việc Thêm sức rồi đến Thánh Thể, tất cả trong cùng một nghi thức, thường diễn ra vào lễ Phục sinh hay lễ Ngũ tuần[19]. Tuổi của các ứng sinh không phải là một vấn đề. Tất cả những người được Rửa tội, dù già hay trẻ, đều được Thêm sức và rước lễ, nếu nghi thức do Giám mục chủ sự. Nếu không có Giám mục, thì linh mục trao Mình Thánh Chúa, và để dành việc Thêm sức cho đến khi nào Giám mục sẵn sàng. Do đó, mặc dù các tài liệu thời Trung cổ gợi ý rằng việc Thêm sức đi sau việc Rửa tội và trước khi rước lễ, nhưng trên thực tế, xem ra việc Thêm sức thường diễn ra một vài năm sau khi rước lễ.
Tuy nhiên, vào thời đó, việc cho các trẻ em rước lễ dần dần biến mất. Vào thế kỷ XIII, bên Tây, điều này trở thành phổ thông. Các Giáo hội bên Đông phương vẫn tiếp tục cho các trẻ em được Thêm sức và rước lễ vào lúc Rửa tội.
Cũng vào thời đó, người ta bắt đầu lo ngại về số những người không bao giờ được Thêm sức. Các Công đồng như Aix-la-Chapelle (836, canon 2)[20] và các văn kiện tựa như Mạo-Decretales[21] nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc Thêm sức, đã cho thấy rằng nhiều người không tham dự nghi thức này. Trong bộ sưu tập giáo luật, đức cha Ruotget, Tổng Giám mục Trier (915–956) đã thúc giục các tín hữu hãy đem con cái đến lãnh bí tích Thêm sức trước khi các em biết phạm tội[22]. Đây có lẽ là văn kiện sớm nhất đề cập đến tuổi để lãnh bí tích Thêm sức.
Những nghi thức sớm nhất về việc cử hành phép Thêm sức biệt lập ra đời vào thế kỷ XI[23].
Năm 1274, công đồng Lyon II đã kể phép Thêm sức vào số bảy bí tích của Hội thánh (DS 860). Cuốn nghi thức được tìm thấy trong những bộ sưu tập những việc chúc lành dành cho Giám mục, và mối tương quan giữa nghi thức này với bí tích Rửa tội chưa được rõ ràng. Mặc dù thời các Giáo phụ, việc đặt tay, khẩn nài Chúa Thánh Thần và xức dầu đều diễn ra trong nghi thức Rửa tội, nhưng về sau, thứ tự này chỉ được thực hành nếu Giám mục có mặt. Như vậy yếu tố duy nhất quyết định cho việc ban phép Thêm sức không phải là tuổi hoặc sự chuẩn bị của các ứng sinh, nhưng là có sẵn Giám mục để cử hành nghi thức hay không. Nghi thức trở thành biệt lập, gắn liền với tác nhân là Giám mục và tác vụ là ban Chúa Thánh Thần cho người đã được Rửa tội.
Nghi thức vẫn còn tiến triển nhưng chỉ liên can đến vài chi tiết, còn bản chất của bí tích đã thành cố định. Sự thay đổi này đã làm nổi lên ba vấn đề: tác viên, tuổi của ứng viên, thứ tự đối với việc rước lễ.
III. Những vấn đề được đặt ra
A. Tác viên cử hành bí tích: Giám mục hay linh mục?
Bên Tây phương, ngay từ lúc ban đầu cũng như suốt quá trình tiến triển, tác viên luôn là Giám mục. Vào lúc đầu, từ ngữ Confirmatio (xác nhận, củng cố) ám chỉ một hành vi nào đó của Giám mục: hoặc xức dầu cho những người đã được Rửa tội bởi một tác viên khác, hoặc xức dầu cho những người trước đây theo lạc giáo và quay về Giáo hội, hoặc khẩn nài Chúa Thánh Linh và xức dầu cho những người mà chính Giám mục đã Rửa tội.
Tuy nhiên, có những chứng tích cho thấy đôi khi các linh mục ban phép Thêm sức, hay là vài cộng đoàn cho rằng những gì tiếp theo việc Rửa tội là không cần thiết. Thí dụ, công đồng Toledo (năm 400) dành riêng việc thánh hóa dầu chrisma cho Giám mục, nhưng cho phép các linh mục được phép dùng dầu ấy để xức (canon 20)[24]. Khoản luật này ngăn cấm các phó tế không được dùng dầu chrisma (hiểu ngầm rằng đã có người lạm dụng). Lá thư của Giáo hoàng Innocentê (đã có dịp nói đến) đã dành riêng việc xức dầu cho Giám mục (hiểu ngầm rằng có những tác viên khác đã lạm quyền). Thư số 9 của Giáo hoàng Gelasius I (492–496) lặp lại điều ngăn cấm này[25]. Những điều này cho thấy rằng vào thế kỷ V, ở vài nơi, các linh mục đã bắt chước tác vụ của Giám mục.
Ở Gaule, công đồng Orange (năm 441) cho phép các linh mục được xức dầu chrisma cho các người lạc giáo trong trường hợp nguy tử. Công đồng cho phép bất cứ linh mục nào Rửa tội cũng được dùng dầu chrisma. Giám mục sẽ không lặp lại việc này khi Thêm sức (can.1–2)[26]. Công đồng Epaone (năm 517) lặp lại các linh mục được phép xức dầu chrisma cho các người lạc giáo (canon 16)[27], nhưng công đồng Paris II (năm 573) đã dành việc xức dầu cho các Giám mục[28].
Bên Ý, một cuốn tiểu sử thánh Silvester (thế kỷ VI) nói rằng các linh mục xức dầu chrisma khi Rửa tội cho những người sắp chết[29]. Giáo hoàng Grêgôriô tuyên bố rằng các linh mục không được phép xức dầu chrisma trên trán khi Rửa tội[30]. Thế nhưng, vào năm 594, ngài cho phép các linh mục ở Sardegna được tiếp tục tập quán ấy[31]. Nhưng khi viết thư cho các Giám mục ở Sicilia, ngài cấm các phó tế xức dầu chrisma[32].
Ở Tây Ban Nha, công đồng Braga II (năm 572) chỉ cấm các linh mục xức dầu khi Giám mục hiện diện (canon 52)[33]. Công đồng Barcelona II (năm 599) giả thiết rắng các linh mục xức dầu chrisma (canon 2)[34]. Năm 619, do ảnh hưởng của Rôma, công đồng Sevilla II quy định rằng các linh mục không được xức dầu chrisma trên trán cũng như không được đặt tay và khẩn nài Thánh Thần (canon 7)[35]. Ildephonsô chủ trương rằng chỉ các Giám mục mới có thể xức dầu những người mới đượe rửa tội[36]. Dù vậy, Braulio Saragoza (sau năm 651) cho rằng các linh mục có thể xức dầu[37].
Bên Anh, thánh Bêđa nói rằng thánh Augustinô (Canterbury) đòi các tân tòng địa phương phải “bổ túc” việc Rửa tội[38] - có lẽ muốn nói đến việc Giám mục ban phép Thêm sức[39], nhưng cũng có người giải thích rằng các cộng đồng địa phương không cảm thấy sự cần thiết của phép Thêm sức sau khi Rửa tội.
Nhiều Sách Lễ từ cuối thế kỷ VII đến thế kỷ IX có mô tả vai trò của linh mục trong các nghi thức Rửa tội[40]. Bởi vì không thấy đả động đến việc Giám mục ban phép Thêm sức, cho nên có thể suy đoán rằng các linh mục cử hành tất cả mọi nghi thức. Sách Liber ordinum episcopalis bên Tây Ban Nha năm 1072[41] cho thấy linh mục xức dầu chrisma trên trán người được Rửa tội, một tập tục vốn được chấp nhận trước đó trong lịch sử Tây Ban Nha.
Vấn đề tác viên bí tích trở nên trầm trọng hơn khi mà các Giám mục gặp khó khăn trong nhiệm vụ cử hành phép Thêm sức. Thánh Bonifaxiô (k. 680–k. 754) yêu cầu các Giám mục hãy kinh lý giáo phận ít là mỗi năm một lần để ban phép Thêm sức[42]. Hoàng đế Charlemagne nhắc lại điều đó vào năm 769[43], cũng như công đồng Chelsea năm 787 (canon 3)[44]. Tất cả những lời nhắc nhở được lặp lại vào các thế kỷ sau, cho thấy các Giám mục gặp khó khăn trong việc ban phép Thêm sức theo như lời yêu cầu.
Trong suốt thế kỷ XX, các trường hợp linh mục ban bí tích Thêm sức tăng dần. Năm 1929, Giáo hoàng Piô XI cấp cho các Giám mục Mỹ châu Latinh quyền được chỉ định vài linh mục để trợ giúp lúc cử hành bí tích (AAS 21 [1929] 555). Năm 1947 Thánh bộ Truyền Bá Đức Tin (Truyền giáo) cho phép các Giám mục ở lãnh thổ truyền giáo được cấp năng quyền cho tất cả các linh mục được ban phép Thêm sức lúc Rửa tội (AAS 40:41). Điều này mở ra một tập tục ở vài nơi ban phép Thêm sức cho các thiếu nhi. Năm 1946, Thánh bộ Kỷ luật các bí tích cho phép các linh mục được ban phép Thêm sức cho người lớn và trẻ nhỏ trong trường hợp nguy tử (AAS 38 [1946] 350–357 passim). Sau công đồng Vaticanô II, Nghi thức Khai tâm cho người lớn và Bộ giáo luật 1983 (canon 883 §2 và. 885 §2) buộc các linh mục ban phép Thêm sức khi Rửa tội cho người lớn hoặc các thiếu nhi ở tuổi học giáo lý. Nghi thức Thêm sức cho phép vài linh mục được ban bí tích này khi con số ứng viên quá đông. Mặc dù theo giáo luật (canon 882), Giám mục là tác viên thông thường của bí tích, nhưng số trường hợp các linh mục được ban bí tích này đã tăng thêm.
B. Tuổi lãnh bí tích
Lịch sử về tuổi để lãnh phép Thêm sức còn thay đổi nhiều hơn nữa. Như đã nói trên, Hội thánh thời các giáo phụ không liên kết tuổi của ứng sinh lãnh bí tích Thêm sức với cơ hội cử hành. Cơ hội cử hành được đặt ra là Giám mục có sẵn sàng hay không.
Sang thời Trung cổ, các nhà thần học mới bắt đầu móc nối tuổi thiếu nhi với phép Thêm sức. Bí tích được giải thích như là “Thêm sức” (tăng cường nghị lực) để đương đầu với những cuộc chiến đấu trên đời. Ông Gratianô viết. “Nhờ phép Rửa tội, chúng ta được tái sinh vào sự sống, và nhờ phép Thêm sức, chúng ta được củng cố để chiến đầu. Trong phép Rửa tội, chúng ta được thanh luyện; sau khi được Rửa tội, chúng ta được tăng thêm nghị lực”[45]. Danh từ confirmatio đã thay đổi ý nghĩa. Vào lúc đầu, nó ám chỉ hành vi của Giám mục “xác nhận” (hay khẳng định) việc Rửa tội của người khác, dần dần nó có nghĩa là tăng Thêm sức mạnh cho những người còn non nớt trong đời sống thiêng liêng. Có lẽ Giám mục Otto Bamberg (sau năm 1168) là người đầu tiên đề nghị ban phép Thêm sức cho những người trưởng thành[46], nhưng nói chung, người ta nghĩ là nên ban ở tuổi thấp hơn. Với việc giải thích ý nghĩa của bí tích như vậy, việc cử hành càng hoãn lại sau thời ấu nhi.
Trong thế kỷ XIII, nhiều ý kiến nảy ra chung quanh tuổi Thêm sức. Một ý kiến chủ trương trước 7 tuổi[47]. Công nghị Cologne (năm 1280) lần đầu tiên ấn định vào 7 tuổi hay muộn hơn[48]. Nhiều công đồng khác chấp nhận tuổi cao hơn. Sách Giáo lý của Công đồng Trentô (năm 1566) viết rằng: “Không ích lợi lắm khi phép Thêm sức được ban cho các thiếu nhi trước khi biết sử dụng trí khôn. Nếu xét là không nên chờ đến 12 tuổi, thì chắc chắn tuổi thích hợp cho bí tích này là 7 tuổi” (2:3)[49].
Đang khi đó, tuổi để rước lễ lần đầu được hạ xuống. Việc cho các ấu nhi rước lễ (trước đây diễn ra vào lúc Rửa tội) đã bị ngăn cấm. Có nhiều ý kiến được đưa ra liên quan đến việc rước lễ lần đầu, nhưng nói chung, người ta cho rằng từ 10 đến 12 tuổi. Dần dần, tuổi ấy được nâng lên ở vài nơi, cho đến đầu thế kỷ XII thì mới lật ngược xuống 7 tuổi với sắc lệnh Quam singulari của Thánh bộ Kỷ luật các bí tích vào năm 1910[50]. Mặc dù sắc lệnh không trực tiếp đề cập đến tuổi Thêm sức, nhưng tự nhiên đặt ra cho các tác viên mục vụ nhiều câu hỏi: nếu cả ba bí tích đều được đặt vào lúc 7 tuổi (Xưng Tội, Thêm sức, Rước Lễ lần đầu): thì phải theo thứ tự như thế nào?
Bộ giáo luật 1917 tìm cách trả lời. Nhà lập pháp đề nghị ban bí tích Thêm sức vào lúc 7 tuổi, và yêu cầu các Giám mục hãy rảo khắp giáo phận trong vòng 5 năm một lần, và mặc nhiên chấp nhận tuổi Thêm sức là từ 7 cho đến 12. Năm 1934, Thánh bộ các bí tích tuyên bố rằng những cơ hội ban bí tích sớm hơn là trường hợp nguy tử và không thể gặp Giám mục được[51]. Năm 1952, Ủy ban Giáo hoàng giải thích giáo luật quy định rằng không Giám mục nào được phép ngăn cấm ban bí tích Thêm sức cho các em chưa đến 10 tuổi[52]. Tuy nhiên, vào hậu bán thế kỷ XX, nhiều giáo phận trên thế giới bắt đầu tăng tuổi Thêm sức, mặc dù luật phổ quát quy định vào 7 tuổi hay vào tuổi nào do Hội đồng Giám mục ấn định.
Việc nâng tuổi Thêm sức xem ra gắn liền với mối quan tâm huấn giáo. Với việc hạ thấp tuổi rước lễ lần đầu Giáo hội mất đi một cuộc cử hành bí tích để đồng hành với các thiếu nhi đang trưởng thành và đang ở tuổi học hành. Bí tích Thêm sức, vốn được giải thích từ thời Trung cổ như là bí tích “tăng cường”, được dân gian giải thích như là bí tích cam kết (dấn thân) với Giáo hội. Những người được Rửa tội lúc thơ nhi được mời gọi tuyên xưng đức tin của mình cách có ý thức.
Rôma không bao giờ ủng hộ ý kiến ấy và thậm chí còn tỏ ra dè dặt nữa: “Mặc dù bí tích Thêm sức đôi khi được gọi là ‘bí tích của sự trưởng thành Kitô hữu’, nhưng chúng ta đừng nên lẫn đức tin trưởng thành với tuổi trưởng thành tự nhiên, cũng đừng quên rằng ơn Rửa tội là một hồng ân tuyển chọn không do công trạng, và không cần phải “xác nhận” thì mới sinh công hiệu”[53]. Năm 1999, Bộ Phụng Tự chấp thuận một kháng cáo của gia đình một em bé 11 tuổi, xin được lãnh bí tích Thêm sức ơ tuổi thấp hơn quy định của giáo phận[54]. Dù vậy, số người được lãnh phép Thêm sức vào tuổi trưởng thành đã ảnh hưởng đến quan niệm bình dân cho rằng bí tích này là nghi lễ dấn thân cho Giáo hội Công giáo.
C. Tương quan giữa bí tích Thêm sức và việc rước lễ lần đầu
Một vấn đề nảy lên trong lịch sử bí tích Thêm sức là mối liên hệ với việc rước lễ lần đầu. Điều này mới nổi lên từ cuối thế kỷ XX, nhưng khi nhìn lại, nó giúp cho ta thấy quan niệm về bí tích này trải qua lịch sử.
Trước thế kỷ XIX, ít thấy tỏ ra mối bận tâm với thứ tự các bí tích. John Peckam in 1279[55], York Manual (thế kỷ XIV hoặc XV[56], và Salisbury Manual (năm 1543)[57] muốn rằng phép Thêm sức đi trước rước lễ, có lẽ vì muốn cổ động bí tích Thêm sức. Quy chế công nghị Saint-Paul-Trois-Châteaux (năm 1751) ước mong bí tích Thêm sức đi sau việc rước lễ lần đầu[58], đang khi quy chế công nghị Valence bên Pháp (năm 1727) không chấp nhận cho người chưa Thêm sức được rước lễ lần đầu[59].
Sang thế kỷ XIX, các ý kiến bất đồng. Các công đồng Tours (1849)[60], Avignon (1849)[61], Sens (1850)[62], Rouen (1850)[63], Auch (1851)[64], Prague V (1860)[65], Mende (1863)[66], và Utrecht (1865)[67] muốn cho việc rước lễ đi trước việc Thêm sức vì những lý do thiêng liêng, truyền thống và huấn giáo. Tuy nhiên, Rôma lại thích thứ tự trái ngược. Năm 1854, Thánh bộ Công đồng lật ngược thứ tự trong La Réunion 9[68] , và vào năm 1873 quyết định tương tự cũng được ban hành cho giáo tỉnh Algers ở Bắc Phi[69]. Năm 1897 một lá thư của ĐGH Lêo XIII khuyến khích Giám mục Marseilles hãy đưa phép Thêm sức lên trước việc rước lễ lần đầu[70]. Quy chế của Lyon (1899) và của Paris (1902) cũng đặt phép Thêm sức trước việc rước lễ[71]. Năm 1913 công nghị Laval bên Pháp đã lật ngược lại thứ tự của thói quen trước đây và đặt phép Thêm sức trước khi rước lễ[72]. Quy chế của Limoges cũng thay đổi theo hướng đó vào năm 1948[73]. Năm 1932, Thánh bộ các Bí tích trao đổi thư từ với các giáo phận Tây Ban Nha, cho thấy rằng 7 tuổi để lãnh bí tích Thêm sức không những là tối thiểu mà còn là lý tưởng nữa[74].
Không có quyết định nào chịu ảnh hưởng bởi vấn đề Rửa tội. Tất cả đều muốn trung thành với tập quán trước đây. Giáo hội đã có một lịch sử lâu đời về việc cho rước lễ lần đầu trước khi lãnh bí tích Thêm sức, nhưng đến khi Rôma can thiệp thì thứ tự bị lật ngược.
Trong thế kỷ XX, một cơ hội đặt lại thứ tự của hai bí tích này là Nghi thức Khai tâm người trưởng thành, móc nối việc cử hành và ý nghĩa của việc Thêm sức với bí tích Rửa tội. Bên Đông phương, việc Thêm sức thánh hiến người Rửa tội để thông dự Thánh Thể. Điều này cũng xảy ra đối với những người đã được ở các Giáo hội khác và được tiếp nhận vào Giáo hội Công giáo. Việc Thêm sức dẫn tới sự hiệp thông Thánh Thể.
Từ đó, có nơi bắt dầu cử hành phép Thêm sức hoặc trước hoặc cùng với việc rước lễ, kể cả đối với các thiếu nhi. Mặc dù điều này không hoàn toàn mới lạ, nhưng nó cho thấy một sự tiến triển nữa trong lịch sử của bí tích. Sự tiến triển này không nằm ở thứ tự Thêm sức trước khi Rước lễ (điều đã có tiền lệ), nhưng thứ tự được áp dụng biệt lập khỏi việc Rửa tội và vào những lúc khác nhau. Thứ tự Thêm sức trước khi rước lễ có điểm tích cực, nhưng lại đặt ra vấn đề: tại sao lại tách việc Thêm sức khỏi việc Rửa tội?
IV. Thần học
Bí tích Thêm sức là một ân huệ của Chúa Thánh Thần hướng người được Rửa tội đến sứ vụ. Việc khảo sát các bản văn của nghi thức Thêm sức đưa đến kết luận này. Bí tích được ban với những lời: “T…, hãy lãnh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”. Nhiều bản văn phụng vụ nhắc nhở người lãnh bí tích rằng ân huệ này được ban với một kỳ vọng là sẽ được sử dụng để phục vụ Hội thánh và thế giới.
1/ Tác động của Chúa Thánh Thần được diễn tả qua những lời vừa nói kèm theo các cử chỉ. ĐTC Phaolô VI đã tuyên bố minh thị trong tông huấn Divinae consortium naturae rằng: “Bí tích Thêm sức được ban qua việc xức dầu chrisma trên trán, diễn ra qua việc đặt tay, và qua những lời ‘Accipe Signaculum Doni Spiritus Sancti’”. Tác động của Chúa Thánh Thần được diễn tả qua việc đặt tay và việc xức dầu. Việc đặt tay nói lên lời khẩn nài Thánh Thần xuống trên các ứng sinh. Việc xức dầu nói việc đóng ấn và quyền năng bền vững của Thánh Thần. Nó thánh hiến ứng sinh để thi hành thách đố của Tin Mừng. Theo truyền thống, dầu chrisma được pha trộn giữa dầu oliu với dầu thơm, nhưng ngày nay có thể dùng bất cứ dầu thảo mộc nào pha trộn với dầu thơm. Chỉ Giám mục mới có quyền thánh hiến dầu chrisma. Dầu này được dùng trong bí tích Rửa tội cho ấu nhi, bí tích Thêm sức, bí tích Truyền Chức Linh mục và Giám mục, và trong việc xức dầu bàn thờ và tường nhà thờ. Nó hàm chứa tác vụ hợp nhất của Giám mục.
2/ Bên cạnh chiều hướng Chúa Thánh Thần, bí tích Thêm sức cũng làm cho các ứng sinh liên kết chặt chẽ hơn với Đức Kitô[75]. Danh xưng Kitô (Christus) có nghĩa là Kẻ được xức dầu, và bí tích Thêm sức ban cho ứng sinh được chia sẻ vào việc xức dầu này của Đức Giêsu, nghĩa là sứ vụ mang Tin Mừng cho người nghèo (Lc 4,18).
3/ Bí tích Thêm sức cũng làm cho mối dây liên kết với Hội thánh thêm hoàn thiện[76]. Mối liên kết này đã được thiết lập trong bí tích Rửa tội, trở nên chặt chẽ hơn nhờ ân huệ Thánh Thần. Bí tích này đòi buộc các ứng sinh phải truyền bá đức tin bằng lời nói và việc làm (LG 11).
4/ Bí tích Thêm sức ghi ấn tích giống như bí tích Rửa tội và Truyền chức thánh. Vì thế bí tích chỉ được ban một lần mà thôi[77]. Xét dưới khía cạnh giáo luật, bí tích này mang theo vài đặc ân. Những ai chưa lãnh bí tích thêm sứ thì không thể làm người đỡ đầu (874/3), gia nhập đời tu (645/1), gia nhập chủng viện (241/2) hoặc chịu chức thánh (1033). Bí tích Thêm sức cần thiết để cho việc khai tâm Kitô hữu được đầy đủ (842/2).
Ý nghĩa của bí tích Thêm sức quen được liên kết với ba khái niệm: khai tâm, trưởng thành, lãnh nhận hiệp thông. Vai trò khai tâm của bí tích Thêm sức được biểu lộ rõ ràng khi được cử hành cùng với bí tích Rửa tội trong Nghi thức khai tâm Kitô hữu cho người lớn, trong nghi thức Rửa tội bên Đông phương, và trường hợp Rửa tội cho các ấu nhi trong cơn nguy tử. Bí tích mang tính trưởng thành khi được tách rời khỏi bí tích Rửa tội, bất kể tuổi của ứng viên. Cần phải thi hành một vài sự chuẩn bị, và việc cử hành được hoãn lại cho tới khi ứng sinh có khả năng lặp lại các cam kết lúc Rửa tội (Bộ Giáo luật, đ. 889 §2). Bí tích Thêm sức được coi như đón nhận vào hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội Công giáo trong trường hợp một người đã được Rửa tội trong các Giáo hội khác: họ phải tuyên xưng đức tin và lãnh bí tích Thêm sức.
V. Nghi thức cử hành bí tích Thêm sức
Nghi thức Thêm sức, được duyệt lại theo ý định của công đồng Vaticanô II, đã được ĐTC Phaolô VI công bố vào ngày 15-8-1971 với tông hiến Divinae consortium naturae. Ngoài những văn kiện pháp lý, nghi thức dự trù nhiều cách thức cử thành: 1/ Trong Thánh lễ; 2/ Ngoài Thánh lễ; 3/ Nghi thức do một linh mục cử hành; 4/ Trong trường hợp nguy tử.
Nguồn mạch của các bản văn thuộc về nhiều giai đoạn khác nhau của lịch sử Giáo hội. Sách Traditio Apostolica (thế kỷ III-IV) cung cấp hai lần xức dầu chrisma sau khi Rửa tội. Lần xức dầu thứ hai, do Giám mục thi hành trước Thánh lễ, là một nguồn quan trọng về sự tiến triển của nghi thức Thêm sức. Thư của Giáo hoàng Innocentê gửi Giám mục Decentius (Tk. V) nói rõ việc xức dầu trên trán với dấu thánh giá. Ordo XI (Tk. VI) và Sacramentarium Gelasianum[78] (tk VIII) đã cung cấp nhiều bản văn có ý nghĩa cho nghi thức, trong đó có lời nguyện xin bảy ơn Thánh Thần, lấy lại của thánh Ambrosiô[79]. Một lời nguyện trích từ Sacramentarium Reichnau (Tk. X) "Deus, qui apostolis tuis,"[80] được thích nghi và dùng kết thúc lời nguyện giáo dân.
Về sau, nhiều chi tiết đã được thêm vào. Durand đã thay thế việc đặt tay lên đầu các ứng sinh với một cử chỉ lấy từ nghi thức tấn phong hiệp sĩ: Giám mục vả vào má ứng sinh, muốn nói rằng họ phải sẵn sàng chịu đựng gian khổ vì Tin Mừng[81]. Giáo hoàng Bêneđictô XIV đề nghị Giám mục đặt tay lên đầu ứng sinh khi xức dầu, như vậy gắn liền việc đặt tay với việc xức dầu[82]. Giáo hoàng Phaolô VI thay đổi các lời đi kèm theo việc xức dầu. Trước Vaticanô II, những lời ấy như sau: “Cha xức dầu và thêm xức cho con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Bản văn mới giống với nghi thức xức dầu bên Đông phương, nêu bật vai trò của Thánh Thần hơn là của Giám mục.
Nghi thức diễn ra rất đơn giản. Sau phụng vụ Lời Chúa, các ứng sinh được giới thiệu. Trong bài giảng, Giám mục giúp hiểu sâu hơn bí tích Thêm sức. Tiếp đó là lặp lại những lời cam kết lúc Rửa tội, với phần đầu của câu hỏi thứ ba được quảng diễn như sau: Con có tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa, Đấng ban sự sống, Đấng mà hôm nay nhờ bí tích Thêm sức các con sẽ lãnh nhận một cách đặc biệt, như các tông đồ xưa trong ngày người hiện xuống không? Sau giây phút thinh lặng, Giám mục (và các linh mục hiện diện) giơ tay hướng về các ứng sinh đang khi Giám mục hát kinh nguyện xin bảy ơn Chúa Thánh Thần. Sau đó, các ứng sinh được xức dầu chrisma lên trán. Tiếp theo là lời nguyện giáo dân. Nếu lễ nghi diễn ra trong Thánh lễ, thì bước sang Phụng vụ Thánh Thể. Nghi thức kết thúc với việc ban phép lành.
Hai chương đầu mô tả nghi thức trong và ngoài Thánh lễ. Chương ba mô tả nghi thức do một linh mục chủ sự, nhưng thực ra chỉ quy chiếu vào những chương trước, bởi vì không có gì khác biệt. Thông thường, chủ sự của bí tích (tách rời khỏi việc Rửa tội) là Giám mục, nhưng ngài có thể chỉ định các linh mục thay thế hoặc cùng kết hợp với mình trong buổi lễ. Chương bốn đề cập đến trường hợp nguy tử. Giám mục và linh mục có thể cử hành tất cả các nghi thức nói trên, hoặc theo một hình thức rút gọn chỉ gồm việc đặt tay, kinh nguyện xin bảy ơn Chúa Thánh Thần, và xức dầu chrisma. Trong trường hợp cực kỳ nguy cấp, chỉ cần xức dầu và đọc : “T…, hãy lãnh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”. Chương năm gồm những bản văn khác có thể chọn lựa: các lời nguyện, các lời chúc lành, các bài Sách Thánh.
Để có thể lãnh bí tích này, đương sự phải là người chưa hề lãnh bí tích, được chuẩn bị, có khả năng lặp lại các lời cam kết rửa tội. Nên chọn người đỡ đầu đã có lúc rửa tội (Bộ Giáo luật, đ. 893 §2). Mặc dù không nói đến việc chọn một tên thánh khác cho việc thêm sức, nhưng nhiều nơi vẫn duy trì tập tục này.
VI. Quan điểm của các Giáo hội khác
Một số Giáo hội Cải cách cũng có nghi thức Thêm sức (có khi được gọi là “khẳng định việc Rửa tội”), nhưng không coi đó như là bí tích. Giáo hội Anh giáo dành việc cử hành phép Thêm sức cho Giám mục. Các Giáo hội Đông phương cử hành phép Thêm sức cùng với việc Rửa tội (kể cả đối với các ấu nhi). Giáo hội Latinh nhìn nhận giá trị phép Thêm sức của tất cả các Giáo hội Đông phương, cả Chính thống cũng như Công giáo.
Thư mục
- M. HAUKE, Die Firmung: Geschichtliche Entfaltung und theologischer Sinn (Paderborn 1999).
- P. TURNER, Confirmation: The Baby in Solomon’s Court (Mahwah, N.J. 1993); Ages of Initiation: The First Two Christian Millennia (Collegeville, Minn. 2000).
- C. FABRIS, Il Presbitero ministro della Cresima? Studio giuridico teologico pastorale (Padua 1997).
- GERALD AUSTIN, The Rite of Confirmation: Anointing with the Spirit (New York 1985).
- A. KAVANAGH, Confirmation: Origins and Reform (New York 1988).
- P. CASPANI, La pertinenza teologica della nozione di iniziazione cristiana (Milan 1999)





