Đời sống tâm linhNổi bậtN hân dịp kỷ niệm 400 năm sinh nhật của Blaise Pascal (1623-1662), một nhà toán học, một triết gia và một nhà tư tưởng tài ba của Công giáo, Đức thánh cha Phanxicô đã công bố tông thư Sublimitas et miseria hominis (Sự cao cả và cùng khốn của con người) vào ngày 19 tháng 6 năm 2023. Có hai điểm đặc biệt đáng ghi nhận.
Một, trong 10 năm triều đại Giáo hoàng, Đức Thánh Cha đã viết nhiều tông thư nhân dịp kỷ niệm các thánh cổ kim, tựa như thánh Giuse, thánh Irênê, thánh François de Sales. Chỉ có một lần ngài viết tông thư liên quan đến một giáo dân chưa được phong thánh, đó là ông Dante Alghieri đại thi hào người Ý (tông thư Candor lucis aeternae , ngày 25 tháng 3 năm 2021). Blaise Pascal là nhân vật thứ hai được vinh dự này.
Hai, ông Pascal đã công kích thần học Dòng Tên. Thế nhưng, đức đương kim Giáo hoàng là tu sĩ Dòng Tên, thích trích dẫn Pascal trong các lớp học (khi còn làm giáo sư). Trong tông thư này, ngài giải thích những lý do đã đưa Pascal đến chỗ chống lại thần học của Luis de Molina, S.J. vì cho rằng thuyết này rơi vào lạc giáo Pelagiô. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Eugenio Scalfari vào năm 2017, ngài cho biết không có gì ngăn trở để xúc tiến việc phong chân phước cho Pascal.
Pascal là một khuôn mặt đặc biệt và nhiều nghịch lý, cũng tương tự như văn phong và tư tưởng của ông vậy. Ông đã giúp cho nhiều người trở về với đức tin; nhưng chính ông cũng đã sai lầm khi ủng hộ thuyết của phái Jansenisme về ơn tiền định.
Một điều gây ấn tượng cho Đức thánh cha hơn cả là ông Pascal, một người giáo dân, đã cảm nghiệm niềm vui của Tin Mừng (tựa đề của tông huấn đầu tiên của Đức Phanxicô). Ngài muốn viết thư này “để sự nghiệp và tấm gương của đời ông, đắm chìm trong Chúa Giêsu Kitô, có thể giúp chúng ta đạt đến đích điểm của con đường chân lý, hoán cải và bác ái”.
Đức thánh cha cũng nêu bật rằng nơi ông Pascal, trí tuệ thông thái suy phục đức cao minh, đức khiêm tốn và đức bác ái với tha nhân. Ngài viết:
Tôi giới thiệu với tất cả mọi người đang tìm kiếm chân lý – là một nghĩa vụ không bao giờ kết thúc ở đời này – hãy lắng nghe ông Blaise Pascal, một con người với trí thông minh vượt bậc, đã nhắc nhở chúng ta rằng ngoài những mục tiêu của tình yêu thì chẳng chân lý nào có giá trị. Chúng ta đừng biến chân lý thành một ngẫu tượng, bởi vì chân lý mà không có tình yêu thì không phải là Thiên Chúa, nhưng chỉ là hình ảnh và bức tượng của Ngài mà ta không nên yêu mến hay thờ lạy.
Pascal qua đời vào lúc 39 tuổi. Ba năm trước khi chết, khi soạn kinh Cầu xin Chúa cho biết dùng các bệnh tật cho đúng, ông là con người bình thản, không còn bận tâm đến các cuộc tranh biện và kể cả việc hộ giáo nữa. Khi cơn bệnh trở nên trầm trọng, gần đến cửa tử, ông xin rước Mình Thánh Chúa, nhưng lời yêu cầu chưa được chấp nhận ngay. Ông liền quay sang nói với cô em gái: “Bởi vì tôi không được kết hiệp với đầu (Chúa Giêsu) thì tôi mong được kết hiệp với các chi thể”. Và “ông ước mong được chết ở giữa những người nghèo”. Đức Thánh Cha rất cảm kích trước hình ảnh một nhà tư tưởng vĩ đại đã từ bỏ tất cả mọi cuộc tranh luận, để dồn tâm lực vào Chúa Kitô và những người nghèo.
Chúng tôi xin chọn lọc 12 ý tưởng chính của Đức Phanxicô trong Tông thư Sublimitas et miseria hominis .
Blaise Pascal đã chứng tỏ là một người tìm kiếm chân lý không mệt mỏi, một tinh thần “không ngơi nghỉ”, luôn mở ra những chân trời mới và rộng lớn hơn. […] việc ông trở lại với Chúa Kitô, bắt đầu từ “đêm lửa” ngày 23 tháng 11 năm 1654, cũng như việc bảo vệ đức tin Kitô giáo một cách tài tình, không biến ông thành một con người tách biệt khỏi thời đại của mình.. Ông tiếp tục quan tâm đến những vấn đề làm bận tâm thời ông và đến nhu cầu vật chất của tất cả mọi người.
Thật cảm động khi nhận ra rằng trong những ngày cuối đời, một thiên tài vĩ đại như Blaise Pascal không thấy gì cấp bách hơn là nhu cầu cống hiến sức lực của mình cho những công việc bác ái: “Đối tượng duy nhất của Kinh Thánh là bác ái”.
Vì nếu Pascal đề nghị nói về con người và Thiên Chúa, đó là bởi vì ông đã đi đến chỗ chắc chắn rằng “không những chúng ta chỉ biết Thiên Chúa qua Chúa Giêsu Kitô, mà chúng ta cũng chỉ biết chính mình qua Chúa Giêsu Kitô mà thôi. Chúng ta không biết sự sống và sự chết ngoại trừ qua Chúa Giêsu Kitô. Ngoài Chúa Giêsu Kitô, chúng ta không hiểu sự sống cũng như sự chết của mình, không hiểu Thiên Chúa hay chính chúng ta.
Blaise, ở tuổi mười hai, hoàn toàn tự mình vẽ các hình trên mặt đất, đã chứng minh 32 định đề đầu tiên của Euclides. Bà chị Gilberte kể lại rằng thân phụ đã kinh ngạc trước chiều sâu và sức mạnh trí tuệ của em. […] . Ở tuổi mười bảy, ông đã giao tiếp với những người uyên bác nhất trong thời đại của mình.
Trí óc sáng suốt của ông đã giúp ông nhận ra những giới hạn của trí tuệ, và đồng thời biết mở ra đến các lý do siêu nhiên của Mặc khải, theo một phương pháp nghịch lý là đặc trưng của triết học của ông và của sức hấp dẫn của tác phẩm Tư tưởng: “Đối với Giáo hội, thật là khó chứng minh rằng Đức Giêsu Kitô là người cho những kẻ phủ nhận điều ấy, cũng như chứng minh rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa: và cả hai điều đó đều là khó ngang nhau”.
Pascal, người sở hữu niềm tin siêu nhiên chắc chắn và coi nó hoàn toàn tương hợp với lý trí trong khi vô cùng vượt trội hơn lý trí, đã cố gắng tham gia đối thoại với những người không chia sẻ niềm tin của mình càng nhiều càng tốt. Vì “đối với những người không có đức tin, chúng ta không thể cho nó ngoại trừ bằng cách lý luận, trong khi chúng ta chờ đợi Thiên Chúa ban cho họ bằng cách đánh động trái tim họ”. Ở đây chúng ta thấy một hình thức truyền giảng Tin Mừng hoàn toàn tôn trọng và kiên nhẫn mà thế hệ chúng ta nên bắt chước.
Khi suy ngẫm về tác phẩm Tư tưởng của Pascal, bằng cách này hay cách khác, chúng ta liên tục bắt gặp nguyên tắc căn bản này: “thực tại thì cao hơn ý tưởng”. Pascal dạy chúng ta hãy tránh xa “các phương tiện khác nhau để che đậy thực tại”, từ “các hình thức thuần khiết như thiên thần” đến “diễn ngôn trí thức mà thiếu cao minh”. Không gì nguy hiểm hơn một tư tưởng không nhập thể: “Ai muốn hành động như thiên thần, sẽ hành động như ác thú”.
Từ nghiên cứu của mình về các tôn giáo lớn, Pascal kết luận rằng, “không tư tưởng nào và không thực hành khổ hạnh-huyền nhiệm nào có thể đưa ra một con đường cứu độ”, ngoại trừ “tiêu chuẩn chân lý cao hơn được tìm thấy trong sự soi sáng của ân sủng trong linh hồn”. Tưởng tượng điều mà Thiên Chúa chân thực có thể nói với chúng ta, Pascal viết, “Thật vô ích, khi các bạn tự mình tìm kiếm phương thuốc cho những đau khổ của mình. Tất cả trí thông minh của bạn chỉ có thể đạt được nhận thức này là bạn sẽ không tìm thấy sự thật hay điều tốt đẹp trong chính bạn. Các triết gia đã hứa điều đó với bạn và họ không thể thực hiện được. Họ không biết đâu là hạnh phúc đích thực của bạn, cũng như tình trạng thực sự của bạn”.
Vào ngày 23 tháng 11 năm 1654, Pascal đã có một trải nghiệm mạnh mẽ mà cho đến tận bây giờ người ta vẫn gọi đó là “đêm lửa” của ông. Trải nghiệm thần bí này, khiến ông rơi nước mắt vì sung sướng, quá mãnh liệt và quyết định đối với ông đến nỗi ông đã ghi lại nó trên một tờ giấy, được đề ngày tháng chính xác, “Hồi ký”, mà ông đã khâu vào bên trong áo khoác của mình, chỉ được phát hiện sau khi ông qua đời. […] “Thiên Chúa của Ápraham, Thiên Chúa của Isaác, Thiên Chúa của Giacóp” (Xh 3,6.15) – và rồi viết thêm: “không phải của các triết gia và các nhà thông thái. Sự chắc chắn. Sự chắc chắn. Cảm giác. Hân hoan. Bình an. Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô”.
Pascal cũng gắn bó sâu sắc với “tính hợp lý của đức tin vào Thiên Chúa”, không chỉ bởi vì “tâm trí không thể bị buộc phải tin vào những gì nó biết là sai”, mà còn bởi vì “nếu chúng ta phủ nhận các nguyên tắc của lý trí, thì tôn giáo của chúng ta sẽ trở nên phi lý và nực cười” […] Chúa Giêsu làm chứng cho chân lý (x. Ga 18,37), nhưng Người “không muốn dùng sức mạnh để ép buộc những kẻ chống đối Người”. Đó là lý do tại sao “có đủ ánh sáng cho những ai chỉ muốn nhìn thấy, và đủ bóng tối cho những ai có ý định ngược lại”.
Pascal không bao giờ cam chịu thực tế là một số người không những không biết Chúa Giêsu Kitô, mà còn coi thường việc đón nhận Tin Mừng một cách nghiêm túc, do bởi sự lười biếng hoặc vì đam mê của họ. Vì trong Chúa Giêsu Kitô, chính mạng sống của họ còn tùy thuộc vào những gì sẽ xảy ra. “Sự bất tử của linh hồn rất quan trọng đối với chúng ta, đó là điều đánh động chúng ta sâu sắc, nên chúng ta cần loại bỏ mọi cảm giác thờ ơ trong việc hiểu biết những điều sẽ xảy ra…”
Một số tuyên bố của chính Pascal, chẳng hạn như về sự tiền định, được rút ra từ thần học của thánh Augustinô và được trình bày cách nghiêm ngặt bởi Jansen, dường như không đúng. Tuy nhiên, chúng ta cần phải hiểu rằng, giống như yhánh Augustinô đã cố gắng chống lại những người theo thuyết Pelagiô vào thế kỷ thứ V, vốn là những người khẳng định rằng, bằng sức mạnh của chính mình và không cần ân sủng của Thiên Chúa, con người có thể làm điều tốt và được cứu độ. Pascal cũng vậy, ông chân thành tin rằng ông đang tấn công chủ thuyết Pêlagiô hoặc chủ thuyết bán-Pêlagiô ngầm ẩn trong các học thuyết được các tu sĩ Dòng Tên theo đuổi là thuyết Molina, được đặt theo tên của nhà thần học Luis de Molina, qua đời vào năm 1600 nhưng vẫn còn ảnh hưởng rất lớn vào giữa thế kỷ XVII. Về điều này, chúng ta hãy ghi nhận sự thẳng thắn và chân thành trong các ý định của Pascal.
Tông thư này chắc chắn không phải là nơi để mở lại vấn đề. Dù vậy, điều mà Pascal đã cảnh báo một cách đúng đắn vẫn còn giá trị đối với thời đại chúng ta: “Thuyết tân Pelagiô” muốn mọi thứ phụ thuộc vào “nỗ lực của con người được hướng dẫn bởi những luật lệ và cấu trúc Giáo hội” và có thể nhận ra bởi thực tế là nó “đầu độc chúng ta khi cho rằng ơn cứu rỗi là do chúng ta giành được bằng nỗ lực của chính mình”. Cũng cần phải khẳng định rằng lập trường cuối cùng của Pascal về ân sủng, và nhất là về việc Thiên Chúa “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1Tm 2, 4), đã được phát biểu bằng những thuật ngữ Công giáo hoàn hảo vào cuối đời của ông.
ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ VỚI BLAISE PASCAL
0
Thời sự Thần học - Số 102, tháng 11/2023, tr. 166-173
_Pablo J. Ginés Rodriguez_
Trong bài này, sau khi nêu bật vài nét chính của tông thư ban hành nhân dịp 400 năm sinh nhật của Blaise Pascal, tác giả, chủ biên tập san Religion en libertad (Madrid), tóm lại 12 điểm chính của văn kiện. https://www.religionenlibertad.com/
papa_francisco/355830691/blas-pascal-seduce-papa-francisco-por-que-12-ideas-sublimitas-miseria-hominis.html
Một, trong 10 năm triều đại Giáo hoàng, Đức Thánh Cha đã viết nhiều tông thư nhân dịp kỷ niệm các thánh cổ kim, tựa như thánh Giuse, thánh Irênê, thánh François de Sales. Chỉ có một lần ngài viết tông thư liên quan đến một giáo dân chưa được phong thánh, đó là ông Dante Alghieri đại thi hào người Ý (tông thư Candor lucis aeternae , ngày 25 tháng 3 năm 2021). Blaise Pascal là nhân vật thứ hai được vinh dự này.
Hai, ông Pascal đã công kích thần học Dòng Tên. Thế nhưng, đức đương kim Giáo hoàng là tu sĩ Dòng Tên, thích trích dẫn Pascal trong các lớp học (khi còn làm giáo sư). Trong tông thư này, ngài giải thích những lý do đã đưa Pascal đến chỗ chống lại thần học của Luis de Molina, S.J. vì cho rằng thuyết này rơi vào lạc giáo Pelagiô. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Eugenio Scalfari vào năm 2017, ngài cho biết không có gì ngăn trở để xúc tiến việc phong chân phước cho Pascal.
Pascal là một khuôn mặt đặc biệt và nhiều nghịch lý, cũng tương tự như văn phong và tư tưởng của ông vậy. Ông đã giúp cho nhiều người trở về với đức tin; nhưng chính ông cũng đã sai lầm khi ủng hộ thuyết của phái Jansenisme về ơn tiền định.
Một điều gây ấn tượng cho Đức thánh cha hơn cả là ông Pascal, một người giáo dân, đã cảm nghiệm niềm vui của Tin Mừng (tựa đề của tông huấn đầu tiên của Đức Phanxicô). Ngài muốn viết thư này “để sự nghiệp và tấm gương của đời ông, đắm chìm trong Chúa Giêsu Kitô, có thể giúp chúng ta đạt đến đích điểm của con đường chân lý, hoán cải và bác ái”.
Đức thánh cha cũng nêu bật rằng nơi ông Pascal, trí tuệ thông thái suy phục đức cao minh, đức khiêm tốn và đức bác ái với tha nhân. Ngài viết:
Tôi giới thiệu với tất cả mọi người đang tìm kiếm chân lý – là một nghĩa vụ không bao giờ kết thúc ở đời này – hãy lắng nghe ông Blaise Pascal, một con người với trí thông minh vượt bậc, đã nhắc nhở chúng ta rằng ngoài những mục tiêu của tình yêu thì chẳng chân lý nào có giá trị. Chúng ta đừng biến chân lý thành một ngẫu tượng, bởi vì chân lý mà không có tình yêu thì không phải là Thiên Chúa, nhưng chỉ là hình ảnh và bức tượng của Ngài mà ta không nên yêu mến hay thờ lạy.
Pascal qua đời vào lúc 39 tuổi. Ba năm trước khi chết, khi soạn kinh Cầu xin Chúa cho biết dùng các bệnh tật cho đúng, ông là con người bình thản, không còn bận tâm đến các cuộc tranh biện và kể cả việc hộ giáo nữa. Khi cơn bệnh trở nên trầm trọng, gần đến cửa tử, ông xin rước Mình Thánh Chúa, nhưng lời yêu cầu chưa được chấp nhận ngay. Ông liền quay sang nói với cô em gái: “Bởi vì tôi không được kết hiệp với đầu (Chúa Giêsu) thì tôi mong được kết hiệp với các chi thể”. Và “ông ước mong được chết ở giữa những người nghèo”. Đức Thánh Cha rất cảm kích trước hình ảnh một nhà tư tưởng vĩ đại đã từ bỏ tất cả mọi cuộc tranh luận, để dồn tâm lực vào Chúa Kitô và những người nghèo.
Chúng tôi xin chọn lọc 12 ý tưởng chính của Đức Phanxicô trong Tông thư Sublimitas et miseria hominis .
1. Pascal, một người không ngừng tìm kiếm chân lý
Blaise Pascal đã chứng tỏ là một người tìm kiếm chân lý không mệt mỏi, một tinh thần “không ngơi nghỉ”, luôn mở ra những chân trời mới và rộng lớn hơn. […] việc ông trở lại với Chúa Kitô, bắt đầu từ “đêm lửa” ngày 23 tháng 11 năm 1654, cũng như việc bảo vệ đức tin Kitô giáo một cách tài tình, không biến ông thành một con người tách biệt khỏi thời đại của mình.. Ông tiếp tục quan tâm đến những vấn đề làm bận tâm thời ông và đến nhu cầu vật chất của tất cả mọi người.
2. Một thiên tài để ý đến những người nghèo
Thật cảm động khi nhận ra rằng trong những ngày cuối đời, một thiên tài vĩ đại như Blaise Pascal không thấy gì cấp bách hơn là nhu cầu cống hiến sức lực của mình cho những công việc bác ái: “Đối tượng duy nhất của Kinh Thánh là bác ái”.
3. Đặt Chúa Giêsu Kitô làm trung tâm
Vì nếu Pascal đề nghị nói về con người và Thiên Chúa, đó là bởi vì ông đã đi đến chỗ chắc chắn rằng “không những chúng ta chỉ biết Thiên Chúa qua Chúa Giêsu Kitô, mà chúng ta cũng chỉ biết chính mình qua Chúa Giêsu Kitô mà thôi. Chúng ta không biết sự sống và sự chết ngoại trừ qua Chúa Giêsu Kitô. Ngoài Chúa Giêsu Kitô, chúng ta không hiểu sự sống cũng như sự chết của mình, không hiểu Thiên Chúa hay chính chúng ta.
4. Một bộ óc khoa học kiệt xuất
Blaise, ở tuổi mười hai, hoàn toàn tự mình vẽ các hình trên mặt đất, đã chứng minh 32 định đề đầu tiên của Euclides. Bà chị Gilberte kể lại rằng thân phụ đã kinh ngạc trước chiều sâu và sức mạnh trí tuệ của em. […] . Ở tuổi mười bảy, ông đã giao tiếp với những người uyên bác nhất trong thời đại của mình.
5. Đứng trước những giới hạn của trí tuệ, ông sử dụng phương pháp nghịch lý
Trí óc sáng suốt của ông đã giúp ông nhận ra những giới hạn của trí tuệ, và đồng thời biết mở ra đến các lý do siêu nhiên của Mặc khải, theo một phương pháp nghịch lý là đặc trưng của triết học của ông và của sức hấp dẫn của tác phẩm Tư tưởng: “Đối với Giáo hội, thật là khó chứng minh rằng Đức Giêsu Kitô là người cho những kẻ phủ nhận điều ấy, cũng như chứng minh rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa: và cả hai điều đó đều là khó ngang nhau”.
6. Kiên nhẫn và tôn trọng khi loan báo Tin Mừng: đức tin là do Chúa ban.
Pascal, người sở hữu niềm tin siêu nhiên chắc chắn và coi nó hoàn toàn tương hợp với lý trí trong khi vô cùng vượt trội hơn lý trí, đã cố gắng tham gia đối thoại với những người không chia sẻ niềm tin của mình càng nhiều càng tốt. Vì “đối với những người không có đức tin, chúng ta không thể cho nó ngoại trừ bằng cách lý luận, trong khi chúng ta chờ đợi Thiên Chúa ban cho họ bằng cách đánh động trái tim họ”. Ở đây chúng ta thấy một hình thức truyền giảng Tin Mừng hoàn toàn tôn trọng và kiên nhẫn mà thế hệ chúng ta nên bắt chước.
7. Chống lại những thứ trí thức mà thiếu cao minh
Khi suy ngẫm về tác phẩm Tư tưởng của Pascal, bằng cách này hay cách khác, chúng ta liên tục bắt gặp nguyên tắc căn bản này: “thực tại thì cao hơn ý tưởng”. Pascal dạy chúng ta hãy tránh xa “các phương tiện khác nhau để che đậy thực tại”, từ “các hình thức thuần khiết như thiên thần” đến “diễn ngôn trí thức mà thiếu cao minh”. Không gì nguy hiểm hơn một tư tưởng không nhập thể: “Ai muốn hành động như thiên thần, sẽ hành động như ác thú”.
8. Là một triết gia vĩ đại, ông nói rằng sự cứu độ không đến từ các triết gia
Từ nghiên cứu của mình về các tôn giáo lớn, Pascal kết luận rằng, “không tư tưởng nào và không thực hành khổ hạnh-huyền nhiệm nào có thể đưa ra một con đường cứu độ”, ngoại trừ “tiêu chuẩn chân lý cao hơn được tìm thấy trong sự soi sáng của ân sủng trong linh hồn”. Tưởng tượng điều mà Thiên Chúa chân thực có thể nói với chúng ta, Pascal viết, “Thật vô ích, khi các bạn tự mình tìm kiếm phương thuốc cho những đau khổ của mình. Tất cả trí thông minh của bạn chỉ có thể đạt được nhận thức này là bạn sẽ không tìm thấy sự thật hay điều tốt đẹp trong chính bạn. Các triết gia đã hứa điều đó với bạn và họ không thể thực hiện được. Họ không biết đâu là hạnh phúc đích thực của bạn, cũng như tình trạng thực sự của bạn”.
9. Đêm lửa, kinh nghiệm huyền bí của Pascal
Vào ngày 23 tháng 11 năm 1654, Pascal đã có một trải nghiệm mạnh mẽ mà cho đến tận bây giờ người ta vẫn gọi đó là “đêm lửa” của ông. Trải nghiệm thần bí này, khiến ông rơi nước mắt vì sung sướng, quá mãnh liệt và quyết định đối với ông đến nỗi ông đã ghi lại nó trên một tờ giấy, được đề ngày tháng chính xác, “Hồi ký”, mà ông đã khâu vào bên trong áo khoác của mình, chỉ được phát hiện sau khi ông qua đời. […] “Thiên Chúa của Ápraham, Thiên Chúa của Isaác, Thiên Chúa của Giacóp” (Xh 3,6.15) – và rồi viết thêm: “không phải của các triết gia và các nhà thông thái. Sự chắc chắn. Sự chắc chắn. Cảm giác. Hân hoan. Bình an. Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô”.
10. Ánh sáng đủ để nhìn thấy, nhưng không áp đặt.
Pascal cũng gắn bó sâu sắc với “tính hợp lý của đức tin vào Thiên Chúa”, không chỉ bởi vì “tâm trí không thể bị buộc phải tin vào những gì nó biết là sai”, mà còn bởi vì “nếu chúng ta phủ nhận các nguyên tắc của lý trí, thì tôn giáo của chúng ta sẽ trở nên phi lý và nực cười” […] Chúa Giêsu làm chứng cho chân lý (x. Ga 18,37), nhưng Người “không muốn dùng sức mạnh để ép buộc những kẻ chống đối Người”. Đó là lý do tại sao “có đủ ánh sáng cho những ai chỉ muốn nhìn thấy, và đủ bóng tối cho những ai có ý định ngược lại”.
11. Ông không cam tâm để cho người đời coi thường Tin Mừng do tật lười biếng
Pascal không bao giờ cam chịu thực tế là một số người không những không biết Chúa Giêsu Kitô, mà còn coi thường việc đón nhận Tin Mừng một cách nghiêm túc, do bởi sự lười biếng hoặc vì đam mê của họ. Vì trong Chúa Giêsu Kitô, chính mạng sống của họ còn tùy thuộc vào những gì sẽ xảy ra. “Sự bất tử của linh hồn rất quan trọng đối với chúng ta, đó là điều đánh động chúng ta sâu sắc, nên chúng ta cần loại bỏ mọi cảm giác thờ ơ trong việc hiểu biết những điều sẽ xảy ra…”
12. Đang khi tìm cách chống lại thuyết Pelagiô, ông đã sai lầm ở vài điểm
Một số tuyên bố của chính Pascal, chẳng hạn như về sự tiền định, được rút ra từ thần học của thánh Augustinô và được trình bày cách nghiêm ngặt bởi Jansen, dường như không đúng. Tuy nhiên, chúng ta cần phải hiểu rằng, giống như yhánh Augustinô đã cố gắng chống lại những người theo thuyết Pelagiô vào thế kỷ thứ V, vốn là những người khẳng định rằng, bằng sức mạnh của chính mình và không cần ân sủng của Thiên Chúa, con người có thể làm điều tốt và được cứu độ. Pascal cũng vậy, ông chân thành tin rằng ông đang tấn công chủ thuyết Pêlagiô hoặc chủ thuyết bán-Pêlagiô ngầm ẩn trong các học thuyết được các tu sĩ Dòng Tên theo đuổi là thuyết Molina, được đặt theo tên của nhà thần học Luis de Molina, qua đời vào năm 1600 nhưng vẫn còn ảnh hưởng rất lớn vào giữa thế kỷ XVII. Về điều này, chúng ta hãy ghi nhận sự thẳng thắn và chân thành trong các ý định của Pascal.
Tông thư này chắc chắn không phải là nơi để mở lại vấn đề. Dù vậy, điều mà Pascal đã cảnh báo một cách đúng đắn vẫn còn giá trị đối với thời đại chúng ta: “Thuyết tân Pelagiô” muốn mọi thứ phụ thuộc vào “nỗ lực của con người được hướng dẫn bởi những luật lệ và cấu trúc Giáo hội” và có thể nhận ra bởi thực tế là nó “đầu độc chúng ta khi cho rằng ơn cứu rỗi là do chúng ta giành được bằng nỗ lực của chính mình”. Cũng cần phải khẳng định rằng lập trường cuối cùng của Pascal về ân sủng, và nhất là về việc Thiên Chúa “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1Tm 2, 4), đã được phát biểu bằng những thuật ngữ Công giáo hoàn hảo vào cuối đời của ông.





