Thứ Bảy, 13 tháng 11, 2021

NHỮNG VĂN KIỆN CỦA GIÁO HỘI VỀ TRUYỀN GIÁO TRONG 100 NĂM QUA

Thời sự Thần học – Số 86, tháng 11/2019, tr. 64-104.

_Tsth_

Trong bài này, ba tác giả sẽ lần lượt trình bày giáo huấn của Giáo hội Công giáo về truyền giáo trải qua ba giai đoạn: 
I. James Kroeger, M.M. (giáo sư tại Loyola School of Theology Manila), “Năm thông điệp truyền giáo (1919-1959): Maximum Illud (1919), Rerum Ecclesiae (1926), Evangelii Praecones (1951), Fidei Donum (1957), và Princeps Pastorum (1959)”.
II. Stephen B. Bevans, S.V.D. (giáo sư tại Catholic Theological Union, Chicago): “Công đồng Vaticanô II. Sắc lệnh Ad Gentes”.
III. Roger P. Schroeder, S.V.D. (giáo sư tại Catholic Theological Union, Chicago): “Sau Công đồng Vaticanô II: Tông huấn Evangelii Nuntiandi (1975). Thông điệp Redemptoris Missio (1990). Văn kiện Đối thoại và Loan truyền (1991)”.
Nguồn: Stephen B. Evans (ed.), A Century of Catholic Mission, Roman Catholic Missiology 1910 to the Present, Regnum Books International, Oxford 2013, p.93-120.  

I. NĂM THÔNG ĐIỆP VỀ TRUYỀN GIÁO (1919-1959)

James Kroeger, M.M.

Những viễn tượng mới của Công đồng Vaticanô II (1962-1965) về sứ mạng truyền giáo của Hội thánh đã được chuẩn bị hàng chục năm trước bằng nhiều cảm nghiệm và suy tư về truyền giáo. Kinh nghiệm phong phú này thường được tích lũy trong một vài văn kiện ghi mốc điểm. Trong tiền bán thế kỷ XX, những viễn cảnh về truyền giáo có thể tìm thấy trong năm thông điệp của các vị giáo hoàng: Maximum Illud (1919), Rerum Ecclesiae (1926), Evangelii Praecones (1951), Fidei Donum (1957), và Princeps Pastorum (1959).

Dĩ nhiên, các văn kiện này cần được lồng trong bối cảnh của lịch sử cũng như của những suy tư thần học vào tiền bán thế kỷ XX, tiếc rằng khuôn khổ của bài viết không cho phép khai triển khía cạnh này. Chúng tôi chỉ giới hạn vào việc phân tích nội dung mà thôi.

A. Maximum Illud

Thông điệp truyền giáo thứ nhất vào thời cận đại là Maximum Illud (MI)  (Quảng bá đức tin công giáo) được Đức thánh cha Bênêđictô XV ban hành ngày 30-11-1919. Thông điệp MI được đặt tên là “Hiến chương” truyền giáo của thời cận đại. Ảnh hưởng của nó có thể thấy qua những lần được trích dẫn trong các văn kiện truyền giáo tiếp theo.

Khung cảnh ra đời của văn kiện này thật đầy ý nghĩa. Thế chiến thứ nhất (1914-1918) vừa chấm dứt, để lại nhiều vết tích tàn phá, kể cả nỗ lực truyền giáo. Thông điệp muốn khơi dậy những dự án truyền giáo bị đình trệ bởi chiến tranh. Ngoài ra, thời kỳ hậu chiến đã chứng kiến sự phát triển đáng kể của ngành truyền thông xã hội.

Đức thánh cha Bênêđictô XV tuyên bố hai mục đích của bức thư này: cổ vũ việc lãnh đạo truyền giáo và khuyến khích các phương pháp truyền giáo. Ngỏ lời trực tiếp với những người đang tham gia công cuộc truyền giáo, Đức thánh cha lưu ý những vị lãnh đạo các địa điểm truyền giáo hãy cư xử hợp với đức khôn ngoan và bác ái, luôn tìm cách phát triển các công cuộc truyền giáo. Họ hãy biết mở rộng cửa để đón nhận sự trợ lực của những người làm việc tông đồ, kể cả những người không thuộc cùng một hội dòng với mình, cũng như cần phải nhìn nhận và cổ động công việc của các nữ tu.

Các vị thừa sai được khuyến khích hãy tăng trưởng về đời sống thánh thiện, bắt chước mẫu gương của Chúa Giêsu và các thánh Tông đồ. Họ hãy năng suy gẫm về ơn gọi cao quý và rực rỡ của mình. Thông điệp nhìn nhận những gian nan mà các thừa sai phải gánh chịu trong công cuộc quảng bá đức tin, đồng thời cũng mạnh mẽ nhắc nhở họ hãy tránh phục vụ những ích lợi của quê hương mình. Nhà thừa sai hãy luôn luôn nhớ rằng, mình không làm việc như là nhân viên của quê hương mình, nhưng là sứ giả của Chúa Kitô. Các nhà thừa sai phải được huấn luyện cẩn thận và chu đáo, đặc biệt là về Truyền giáo học; họ không thể chỉ thỏa mãn với việc nói lõm bõm tiếng địa phương, nhưng phải nói thật trôi chảy lưu loát.

Một điểm nhấn đặc biệt của MI là việc phát triển hàng giáo sĩ bản xứ: cần phải chú ý đến việc đào tạo các ứng sinh lãnh chức thánh, bởi vì đây là niềm hy vọng lớn nhất của các Giáo hội trẻ. Tại sao vậy? Bởi vì linh mục địa phương, cùng dòng giống, cùng văn hóa, cùng khát vọng với đồng bào của mình thì dễ gần gũi với tâm thức của họ và thu hút họ về đức tin.

Hàng giáo sĩ địa phương cần được huấn luyện kỹ lưỡng. Đừng đào tạo họ đủ để thi hành những công việc tầm thường, dường như chỉ là phụ tá cho các thừa sai ngoại quốc. Không nên có một hàng giáo sĩ địa phương tầm thường. 

Thông điệp kêu gọi toàn thể Giáo hội hãy cộng tác vào việc truyền giáo bằng lời cầu nguyện, nhân sự và tài chính. Các công tác của Hội Truyền bá đức tin đáng được nâng đỡ và hỗ trợ. “Thần học truyền giáo” của thông điệp vẫn còn chịu ảnh hưởng đương thời, với viễn tượng là “ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ” (extra ecclesiam nulla salus). Đức thánh cha Benêđictô XV cũng ký thác các nỗ lực truyền giáo của Giáo hội, cho Đức Thánh Mẫu, Nữ vương các thánh Tông đồ.

B. Rerum Ecclesiae

Bảy năm sau Maximum Illud, vào ngày 28-2-1926, Đức thánh cha Piô XI ban hành thông điệp Rerum Ecclesiae (RE: Cổ vũ lòng hăng say truyền giáo) , tiếp nối tư tưởng của vị tiền nhiệm tuy cũng khai triển thêm một vài chi tiết.

Đức thánh cha mở đầu với việc khẳng định lòng hăng say truyền giáo, và không bỏ qua bất cứ việc gì có thể mang ánh sáng Tin Mừng cho dân ngoại. Để thực hiện điều này, ngài thấy cần một số thừa sai đông đảo hơn, và các giáo dân cần phải ý thức hơn về bổn phận của mình đối với việc truyền giáo. 

Thông điệp xác định rõ mục tiêu của công tác truyền giáo. “Mục tiêu của công cuộc truyền giáo là gì nếu không phải là thiết lập Hội thánh Chúa Kitô tại nhiều nơi hơn nữa?” Vì thế, Đức thánh cha muốn cổ võ việc xây dựng Giáo hội tại những dân tộc chưa thuộc về Kitô giáo. Nói cách khác, ngài cho rằng bổn phận đầu tiên của các nhà truyền giáo là tổ chức Giáo hội hữu hình và thành lập các chủng viện.

Với điểm nhấn như vậy, văn kiện này thúc đẩy việc đào tạo hàng giáo sĩ bản xứ, đã được nói đến trong thông điệp Maximum Illud. Không được khước từ thâu nhận các thanh thiếu niên bản xứ làm linh mục; không được coi hàng giáo sĩ bản xứ là thua kém hàng giáo sĩ nước ngoài hoặc chỉ giao cho họ những công tác tầm thường; không được kỳ thị hoặc phân biệt giai cấp giữa những người Âu với hàng giáo sĩ bản xứ. Cần phải cổ động các cộng đồng tu sĩ bản xứ và các ơn gọi chiêm niệm.

Đức thánh cha cũng đưa ra vài lời khuyên thực tiễn: Công cuộc truyền giáo cần phải được quản trị khoa học; chứng tá của các vị thừa sai rất có ảnh hưởng bởi vì việc bác ái dễ thu phục lòng người. Các thừa sai hãy tránh xây dựng những công trình sang trọng và tốn kém. Nên cất những viện mồ côi, bệnh viện, phòng phát thuốc. Các dòng tu nên nhớ rằng họ không có danh nghĩa nào để nắm độc quyền hoặc vĩnh viễn các lãnh thổ truyền giáo.

Được coi như “giáo hoàng của công cuộc truyền giáo, Đức thánh cha Piô XI đã bắt tay vào nhiều dự án quan trọng: cổ võ cuộc triển lãm truyền giáo quốc tế (năm 1925), và trở thành cố định vào năm 1927 việc thành thành lập viện Bảo tàng dân-tộc-học truyền giáo, (ngày nay đặt trong thư viện Vatican); thiết lập Chúa nhật truyền giáo (1926); phê duyệt hai phân khoa truyền giáo học tại Rôma (đại học Gregoriana năm 1932 và đại học Urbaniana năm 1933). Đức Piô XI cũng còn được nhắc đến như là người cổ động hàng giáo phẩm bản xứ, và ngài đích thân truyền chức cho các giám mục tiên khởi của Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản.

C. Evangelii Praecones

Thông điệp truyền giáo thứ ba trong vòng 35 năm, được Đức thánh cha Piô XII ban hành ngày 2-9-1951  nhằm kỷ niệm giáp 25 năm Thông điệp Rerum Ecclesiae. Trong suốt triều đại khá dài (1939-1958), Đức Piô XII đã viết 10 văn thư có liên quan đến truyền giáo, mà Evangelii Praecones (EP) là tác phẩm đặc trưng.

Đức cha Fulton J. Sheen, giám đốc Hội Truyền bá Đức tin tại Hoa kỳ thời ấy, đã phân chia thông điệp thành ba mục lớn: mục I cho thấy tình trạng hiện tại của công cuộc truyền giáo; mục II đề ra bảy nguyên lý và quy tắc cho hoạt động truyền giáo; mục III phác họa bảy hình thức để hỗ trợ công cuộc truyền giáo. 

Mở đầu, Đức thánh cha suy nghĩ về những bước tiến của hoạt động truyền giáo, qua những bản thống kê, về con số tín đồ Công giáo trên thế giới, số các linh mục, sự gia tăng các giám mục bản xứ. Cùng với sự tiến triển này, có những thách đố cần phải đương đầu, chẳng hạn như phong trào giành độc lập, cuộc cánh mạng cộng sản.

Các nguyên lý và quy tắc cho hoạt động truyền giáo là: (1) quê hương của vị thừa sai là xứ người mà mình đang phục vụ, và xứ người phải trở nên quê hương của mình; (2) các thừa sai cần được huấn luyện chuyên môn; (3) các thừa sai cần quan tâm đến việc thiết lập hàng giáo sĩ và giáo phẩm bản xứ; (4) các thừa sai cần biết dùng sự cộng tác của các giáo dân; (5) bắt tay vào việc cải tổ xã hội theo sự đòi hỏi của công bình và bác ái; (6) cần có sự hợp tác giữa các hội truyền giáo; (7) thánh hóa các chân lý ngoại đạo.

Có lẽ điều mới mẻ nhất của EP là việc nhấn mạnh đến việc bảo tồn những yếu tố tích cực trong các phong tục cổ kính của các dân tộc, và cụ thể là: học thuật, mỹ thuật. “Giáo hội không muốn bứng nhổ các truyền thống tốt đẹp, công trình mỹ thuật của bất cứ dân tộc nào. Nhiệm vụ của Giáo hội là duy trì, nâng cao và thánh hóa chúng theo tinh thần của Tin Mừng”.

Bảy điều hỗ trợ cho hoạt động truyền giáo là: (1) việc cầu nguyện của tất cả mọi tín hữu; (2) nuôi dưỡng linh mục bản xứ; (3) nhiệt tình của hàng giáo sĩ; (4) việc cầu nguyện và hy sinh của các thiếu nhi; (5) các phụ nữ trong các hội đạo đức; (6) cỗ võ ơn gọi; (7) đóng góp tiền của. Thông điệp cũng nói đến những cuộc bách hại ở Trung Hoa và Triều Tiên, vai trò của Công giáo tiến hành, tầm quan trọng của các tổ chức từ thiện bác ái. 

Về mặt thần học, Thông điệp dựa trên tư tưởng “Nhiệm thể Chúa Kitô” và tín điều “sự hiệp thông các thánh”.

D. Fidei Donum

Một năm trước khi băng hà, Đức thánh cha Piô XII đã ký thông điệp truyền giáo thứ hai, vào ngày 21-4-1957, trùng với Chúa nhật Phục sinh, nhằm nêu bật mối tương quan giữa việc truyền giáo với biến cố Phục sinh và Ngũ tuần. Fidei Donum (FD 1957) là một văn kiện tương đối ngắn , nhấn mạnh đến những nhu cầu khẩn cấp của Phi châu.

Thông điệp được chia làm bốn phần. Phần Một trình bày tình trạng Giáo hội tại Phi châu, đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây. Nhiều quốc gia trẻ đang phải đương đầu với những biến đổi về xã hội, kinh tế, chính trị có ảnh hưởng đến tương lai. 85 phần trăm dân số vẫn còn ở ngoài Kitô giáo, trong khi đạo Islam đang bành trướng. Con số linh mục cũng suy giảm so với số các tín hữu.

Trong bối cảnh này, Đức thánh cha kêu gọi sự hợp tác của toàn thể Hội thánh (phần Hai và phần Ba), và nhấn mạnh rằng: tinh thần truyền giáo và tinh thần công giáo là một. Đặc tính công giáo là một thuộc tính của Giáo hội, và do đó, đòi hỏi sự trợ giúp của toàn thể Giáo hội.

Trong phần Bốn, thông điệp kết thúc với lời tri ân và hy vọng vào các nhà thừa sai, và thúc đẩy Giáo hội hãy nghe lời của Chúa Giêsu: “Tiến ra khơi” (Lc 5,4). Đức thánh cha vạch ra bảy lãnh vực mà Giáo hội Phi châu đang cần được quan tâm: (1) cổ động các ơn gọi truyền giáo tại các trường học và nhờ Công giáo tiến hành; (2) các giám mục cần tuyển lựa thêm các ơn gọi; (3) các giám mục cần gặp nhau để đương đầu với những thách đố chung; (4) sự hợp tác giữa các tổ chức truyền giáo; (5) mục vụ cho giới sinh viên rất cấp bách; (6) các linh mục nên tình nguyện phục vụ Phi châu; (7) các giáo dân có thể dấn thân tham gia truyền giáo.

Một hiệu quả bền vững của Fidei Donum là cử các linh mục giáo phận đi phục vụ miền truyền giáo trong một thời gian. Thể chế mang tên là các “linh mục Fidei Donum” bổ sung phần nào con số các thừa sai. Kết quả của những cuộc trao đổi này là siết chặt mối dây liên kết giữa các Giáo hội địa phương cũng như thúc đẩy những sáng kiến mục vụ giữa Phi châu và nơi xuất xứ của các linh mục. Điều này là hệ luận của nguyên tắc được phát biểu trong thông điệp “Một cộng đoàn Kitô giáo cung cấp con cái của mình cho Giáo hội thì không thể nào chết được”.

E. Princeps Pastorum

Được đắc cử vào lúc 77 tuổi, Đức giáo hoàng Gioan XXIII được xem như một con người thuộc giai đoạn chuyển tiếp. Thế nhưng trong triều đại 5 năm (1958-1963), ngài đã để lại dấu ấn sâu xa trong Giáo hội. Nhân dịp kỷ niệm 40 năm thông điệp Maximum Illud, vào ngày 28-11-1959, ngài đã ký một thông điệp truyền giáo Princeps Pastorum, Thủ lãnh các mục tử (PP) .

Mở đầu, Đức Gioan XXIII đề cập đến những thành quả của 40 năm truyền giáo: việc thiết lập hàng giáo phẩm và các giáo sĩ tại những nơi trước đây được giao cho các thừa sai, kèm theo vài thống kê về sự tăng trưởng này. Ngài ghi nhận rằng người Á châu đầu tiên thụ phong giám mục vào năm 1923, và người Phi châu đầu tiên thụ phong giám mục vào năm 1939, nhưng đến năm 1959, đã có 68 giám mục Á châu và 25 giám mục Phi châu.

Trong bối cảnh này, Đức Gioan XXIII đưa ra những định hướng cho các giáo sĩ bản quốc và các thừa sai còn ở lại các Giáo hội trẻ: sự hợp tác huynh đệ giữa hàng giáo sĩ bản xứ với các thừa sai nước ngoài; sự đào tạo vững vàng về sự thánh thiện linh mục; việc học hỏi ngành truyền giáo học; tầm quan trọng của những trường học và trung tâm văn hóa; việc sử dụng các kỹ năng vào việc quảng bá đức tin; vai trò của giáo dân; tránh phong trào yêu nước cực đoan tại các Giáo hội địa phương.

Những biến chuyển xảy ra trong vòng 40 năm tại các miền truyền giáo (1919-1959) mang nhiều ý nghĩa, bởi vì cho thấy các Giáo hội trẻ đang tiến đến trình trạng trưởng thành. Đồng thời, sự chuyển mình từ quốc gia bị đô hộ sang quốc gia độc lập cũng đòi hỏi sự thay đổi trong quy chế của Giáo hội. Rõ ràng là bất cứ vết tích nào của thời “truyền giáo thuộc địa” cũng cần phải được xóa bỏ.

Thông điệp Princeps Pastorum được ban hành vào tháng 11 năm 1959; ngay từ đầu năm ấy, Đức Gioan XXIII đã loan báo việc triệu tập Công đồng Vaticanô II. Thông điệp này đã chứa đựng vào hạt mầm canh tân, và dọn đường cho những quyết định của Công đồng về truyền giáo. 

Tóm tắt và tổng hợp

Năm thông điệp trên đây gom lại khoảng độ 100 trang trong ấn bản chính thức đăng trên công báo Acta Apostolicae Sedis, nhưng không dễ gì tóm lại những ý tưởng chính. Ở đây chúng tôi chỉ muốn vạch ra vài đề tài nổi bật trong giáo huấn các giáo hoàng trước Công đồng Vaticanô II.

Dựa trên nội dung và mục lục của các thông điệp, có thể kể ra 10 đề tài thường được nhấn mạnh hơn cả: (1) bản tính truyền giáo của Hội thánh; (2) mục tiêu của công cuộc truyền giáo; (3) bản thân nhà thừa sai; (4) các Giáo hội địa phương và hàng giáo sĩ bản quốc; (5) vai trò của giáo hoàng và các giám mục; (6) vai trò của vị lãnh đạo xứ truyền giáo; (7) các loại công tác truyền giáo; (8) các nhân đức của người truyền giáo; (9) sự trợ giúp của các hiệp hội giáo hoàng truyền giáo (10) các giáo dân tại vùng truyền giáo.

Nhìn dưới góc độ tiến triển, có thể nói rằng dưới nhiều khía cạnh, sắc lệnh của Công đồng Vaticanô II về hoạt động truyền giáo là hệ luận của các văn kiện nói trên đây. Để minh họa điều này, ta có thể so sánh giữa Ad Gentes với giáo huấn của các giáo hoàng trước Công đồng. Việc thiết lập Giáo hội phải được coi là mục tiêu hàng đầu của công cuộc truyền giáo (AG 5), và điều này thường được diễn tả như là “vun trồng Giáo hội” (plantatio Ecclesiae: AG 6,19) . Các nghĩa vụ của vị thừa sai đã được phác thảo, đặc biệt là ơn gọi nên thánh (AG 23-27). Sự hợp tác truyền giáo là điều thiết yếu để hoạt động truyền giáo thâu hoạch kết quả (AG 35-41). Cổ động sự tham gia của giáo dân (AG 41).

Dĩ nhiên, khi đi vào một vài vấn đề cụ thể, ta không thể nào mong đợi các thông điệp tiền Công đồng sẽ đưa ra một viễn tượng tiến bộ về việc truyền giáo. Những đề tài tựa như hội nhập văn hóa, đối thoại liên tôn, công bằng xã hội, đại kết chỉ xuất hiện vào thời Công đồng. Thần học về nguồn gốc Tam Vị của sứ vụ sẽ chỉ gặp thấy nơi sắc lệnh Ad Gentes. Tuy vậy, khi vạch ra con đường “minh tuệ” của Giáo hội về truyền giáo qua các thông điệp của các giáo hoàng dẫn tới cuộc canh tân của Công đồng, chúng ta không khỏi thán phục bước tiến triển dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh.

Khi bình luận về ảnh hưởng của các thông điệp truyền giáo nói trên, một tác giả ghi nhận rằng, chúng không thu hút được sự chú ý đáng kể và vì thế nhiều đề nghị trong đó đã không hề được mang ra áp dụng . Nhận xét này thật đúng, nhưng nên được hiểu theo phạm trù thần học, gọi là “tiếp nhận” (receptio). Sự tiếp nhận là tiến trình mà cộng đồng Kitô hữu nhận ra, chấp nhận và hội nhập một giáo huấn hay kinh nghiệm của Giáo hội. Đây là một tiến trình liên tục và thường đòi hỏi nhiều nỗ lực lâu dài. Do đó, Giáo hội ngày nay cố gắng để hội nhập sự minh tuệ của các thông điệp trước Công đồng, những trực giác của Công đồng Vaticanô II, và những văn kiện quan trọng hậu Công đồng tựa như Evangelii Nuntiandi của ĐGH Phaolô VI và Redemptoris Missio của ĐGH Gioan Phaolô II. Hội thánh thiết tha khẩn nài: Veni, Sancte Spiritus! Lạy Thánh Linh, xin ngự đến!

Để kết thúc, người viết chương này muốn trở về động lực mà ĐGH Piô XII đã dùng làm tựa đề cho thông điệp Fidei Donum: Sứ vụ bắt nguồn từ “hồng ân đức tin”. Vì thế, việc nhận ra những ân huệ bao la của Thiên Chúa trở thành động lực cho lòng biết ơn sâu xa, gợi lên niềm hân hoan trong tâm hồn và thúc đẩy cất lên bài ca tri ân. Mặc dù thông điệp được viết vào năm 1957, nhưng nó rất thích thời, cách riêng đối với ai đã có kinh nghiệm làm việc tại Á châu: Chúng ta trở thành thừa sai do lòng biết ơn vì hồng ân đức tin đã nhận lãnh. Nói theo các giám mục Á châu, chúng ta loan báo Tin Mừng do lòng biết ơn sâu xa đối với Thiên Chúa. Nói cho cùng, “sứ vụ” trào ra từ tấm lòng biết cảm tạ.

II. TRUYỀN GIÁO THEO CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II

Stephen B. Bevans, S.V.D.

Mỗi khi muốn biết Công đồng Vaticanô II (1962-65) nói gì về hoạt động truyền giáo của Hội thánh, lập tức người ta mở ra Sắc lệnh Ad Gentes (AG 1965). Đúng rồi, nhưng cũng nên biết rằng “truyền giáo” hoặc “loan báo Tin Mừng” là trọng tâm mọi suy tư của Công đồng. Thực vậy, Vaticanô II là một Công đồng truyền giáo. Chủ đề căn bản của Công đồng là mầu nhiệm Hội thánh: một cộng đồng được đặt làm dấu chỉ bí tích của ân sủng giữa lòng nhân loại (xem LG 1).

Khác với các công đồng trước đây, Vaticanô II được triệu tập không phải để giải quyết một cuộc khủng hoảng về đức tin hay cơ cấu tổ chức. Ít là bề ngoài, trong suốt triều đại của Đức thánh cha Piô XII (1939-1958), uy tín giáo hoàng chưa bao giờ lên mạnh như vậy và Giáo hội đang tăng trưởng khắp nơi. Tuy vậy, với cái nhìn ngôn sứ, lý do mà Đức thánh cha Gioan XXIII triệu tập Công đồng là nhằm giúp cho Hội thánh duy trì và giảng dạy đạo lý một cách hữu hiệu hơn dưới ánh sáng của những biến chuyển chính trị và văn hóa trong thế kỷ XX. Khẩu hiệu “canh tân” (Aggiornamento, tiếng Ý) không phải là lời kêu gọi thay đổi để mà đổi thay, nhưng là lời kêu gọi truyền giáo. Việc truyền giáo là hướng đi căn bản của Công đồng.

Mỗi Hiến chế của Công đồng (về Giáo hội, về Giáo hội trong thế giới ngày nay, về phụng vụ, về mặc khải) đều hàm chứa những yếu tố soi sáng cho sứ mạng loan báo Tin Mừng và cung cấp nền tảng vững chắc cho văn kiện về truyền giáo. Tư tưởng hạt mầm về Giáo hội là dấu chỉ và dụng cụ cho kế hoạch cứu độ nhân loại của Thiên Chúa (LG 1); ý tưởng về tất cả các Kitô hữu đều san sẻ vào sứ mạng của Giáo hội như nhau tuy với cách thế khác biệt (LG, chương II; số 32); việc nhìn nhận rằng những “vui mừng và hy vọng, buồn sầu và âu lo của nhân loại cũng là của các môn đệ Chúa Kitô (GS 1); sự thay đổi từ chỗ coi mặc khải như một mớ những mệnh đề sang lời mời sống tình bằng hữu (DV 2); nhận thức về văn hóa nằm ở đàng sau cuộc canh tân phụng vụ (SC 37-40) – tất cả những điều này đều được thúc đẩy bởi tinh thần truyền giáo và loan báo Tin Mừng. 

Ngoài ra, chỉ cần nhắc đến hai văn kiện khác, về tự do tín ngưỡng và về các tôn giáo ngoài Kitô giáo, cũng cho thấy Công đồng đã đưa ra một cái nhìn đầy thách đố đối với cách thức hiểu biết xưa nay về đường lối truyền giáo, nhưng đồng thời cũng cung cấp một động lực mới, phù hợp với Tin Mừng hơn, cho việc rao giảng và chứng tá đức tin. Công đồng tuyên bố rằng, hết mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng; điều này loại trừ mọi hình thức chiêu dụ dưới danh nghĩa Giáo hội hoặc Tin Mừng (DH 1). Công đồng nhìn nhận mỗi tôn giáo đều chứa đựng những tia sáng của Chân lý soi sáng muôn người (NA 2); điều này lưu ý rằng việc loan báo Tin Mừng cần diễn ra trong khung cảnh đối thoại và cố gắng tìm hiểu niềm tin chân chính của những người mà chúng ta mang Tin Mừng đến.

Dưới cái nhìn của một sử gia, John W. O’Malley còn nhận xét rằng, Công đồng không những có những cách trình bày đạo lý mới mà còn với một văn phong mới . Công đồng tránh những kiểu nói thị uy, dọa nạt, cảnh cáo, giống như của cấp trên đối với cấp dưới, nếu chưa muốn nói là với đối thủ; thay vào đó là ngôn ngữ thuyết phục mang tính mục vụ hơn. Việc thay đổi cung giọng biểu lộ sự thay đổi thái độ đối với việc dấn thân truyền giáo: Giáo hội tự bản chất mang tính truyền giáo, không chỉ nguyên bởi lệnh truyền của Đức Kitô phải quy tụ môn đệ từ khắp muôn dân (Mt 28,19), nhưng vì đâm rễ từ cuộc sống sứ vụ của Thiên Chúa Tam Vị (AG 2); các Kitô hữu thi hành sứ vụ với lòng quý trọng các nền văn hóa cũng như tín ngưỡng của các dân tộc mà mình mang Tin Mừng đến (AG 11; NA 2); các Kitô hữu không chỉ có những điều quý giá muốn chia sẻ cho thế giới, nhưng cũng có thể học hỏi từ những cuộc chiến đấu, lòng chân thành, những tiến bộ của thế giới (GS 43-44). Nếu Vaticanô II là một Công đồng truyền giáo, thì Công đồng cũng cho thấy một cung cách mới cho công cuộc truyền giáo. 

Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo Ad Gentes 

Tiến trình soạn thảo

Ngay từ thuở ban đầu, Giáo hội đã dấn thân cho công cuộc truyền giáo “cho muôn dân” (ad gentes), nhưng Sắc lệnh của Công đồng Vaticanô II về hoạt động truyền giáo được coi như văn kiện chính thức đầu tiên của Giáo hội bàn về hoạt động truyền giáo. Thế nhưng, điều thú vị là những cuộc thảo luận về văn kiện này chỉ bắt đầu kể từ khóa họp thứ ba (1964), nghĩa là khi Công đồng đã đi được nửa chặng đường, và sắp đến hồi kết thúc! Sau đây là tóm lược hành trình quanh co trong việc soạn thảo văn kiện này.

Vào tháng 6 năm 1959, nghĩa là trong thời gian chuẩn bị Công đồng, ủy ban soạn thảo lược đồ về hoạt động truyền giáo được đặt dưới sự chủ tọa của Hồng y Gregory Peter Agagianian, Bộ trưởng bộ Truyền bá đức tin, gồm 54 thành viên, hầu hết gốc Âu châu. 

Bản dự thảo thứ nhất mang nặng tính cách pháp lý, ít tính thần học, và chẳng mấy quan tâm đến những gợi ý do các giám mục Á châu và Phi châu đề ra. Bản văn gồm 7 chương, bắt đầu với đề tài quản trị miền truyền giáo, kế đến là những chương bàn về việc đào tạo giáo sĩ và giáo dân, những vấn đề liên quan đến phụng vụ và bí tích, và chương cuối cùng dành cho sự hợp tác truyền giáo. Xét vì có nhiều đề tài trùng hợp với các bản dự thảo khác, Ủy Ban Trung ương quyết định chỉ lấy hai chương (về việc quản trị và hợp tác truyền giáo) sẽ được đưa vào Công đồng.

Thế nhưng bản văn ấy chưa bao giờ được đưa ra thảo luận. Trong khóa họp thứ nhất (năm 1962), có bốn dự thảo được đưa ra bàn, nhưng ba dự thảo bị bác (về Giáo hội, Đức Maria, mặc khải) và trả lại cho ủy ban soạn thảo; chỉ có dự thảo về phụng vụ là được chấp thuận để tiếp tục bàn trong khóa họp năm sau (1963). Nói chung, bầu không khí của các giám mục là chống lại não trạng của giáo triều; cách riêng, liên quan đến vấn đề truyền giáo, các giám mục nói tiếng Pháp đã yêu cầu hạ cấp Bộ Truyền bá đức tin xuống một cơ quan gây quỹ; các giám mục tại các vùng truyền giáo yêu cầu có tiếng nói trong việc quản trị, chứ không thể nào khoán cho những nhân viên hành chánh ở Rôma.

Trong thời gian giữa khóa họp thứ nhất và khóa họp thứ hai (từ tháng 12 năm 1962 đến tháng 10 năm 1963), ủy ban soạn dự thảo họp lại nhưng không mang lại kết quả hữu ích. Họ đệ lên Ủy ban Trung ương một lược đồ De Missionibus, nhưng bị trả lại. Như vậy, khóa họp thứ hai (1963) không đả động gì đến vấn đề truyền giáo. Vào cuối khóa họp ấy, có lời yêu cầu phải soạn xong tất cả mọi dự thảo trước cuối năm 1964, với hy vọng sẽ kết thúc Công đồng vào khóa họp thứ ba. 

Vào tháng 5 năm 1964, một lược đồ vắn tắt gồm 14 mệnh đề được đề ra, với nội dung thần học nghèo nàn. May thay, ủy ban của Công đồng về Truyền giáo đã thay đổi nhân sự, bao gồm nhiều thành viên mới từ Á châu, Phi châu, Bắc Mỹ, và đặc biệt là cha Johannes Schütte, Tổng quyền Dòng Ngôi Lời giữ vai trò phó chủ tịch ủy ban. Cha đã soạn một dự thảo mới, với sự cộng tác của các nhà thần học nổi tiếng như Yves Congar và Joseph Ratzinger. Tuy nhiên, lược đồ này chỉ được đem ra bàn cãi sau khi lược đồ vắn tắt nói trên đã bị các nghị phụ bác bỏ ở nghị trường.

Cuối cùng, dự thảo của cha Schütte được trình bày cho các nghị phụ vào ngày 7-10-1965. Từ ngày 7 cho đến 13 tháng 10, đã có 49 vị lên tiếng phát biểu. Ngày 12 tháng 10, vị Tổng thư ký xin bỏ phiếu, với kết quả là 2070 thuận và 15 chống. Ủy ban tiếp tục đón nhận các ý kiến tiếp tục phát biểu hoặc qua bản viết. Sau những sửa chữa, bản văn tu chính được đưa ra bỏ phiếu chung quyết vào ngày 7-12-1965 (ngày chót trước khi bế mạc Công đồng), với kết quả là 2,394 phiếu thuận và chỉ 5 phiếu chống. Đây là bản văn Công đồng đạt được sự đồng ý cao nhất. Một kỷ nguyên mới của hoạt động truyền giáo đã bắt đầu.

Nội dung

Chương Một

Sắc lệnh Ad Gentes gồm Nhập đề ngắn, 6 chương và Kết luận ngắn. Có lẽ chương quan trọng nhất là chương Một mang tựa đề “Những nguyên tắc đạo lý”, với dòng đầu tiên có lẽ là lời tuyên bố súc tích hơn cả của toàn văn kiện, nói như sau: “Giáo hội lữ hành mang tính sứ vụ tự bản tính, bởi vì bắt nguồn từ sứ vụ của Chúa Con và sứ vụ của Thánh Linh, phù hợp với ý định của Chúa Cha”   (AG 2). Qua câu này, một phần gợi ý từ nhà thần học Karl Barth (Tin lành) một phần trở về với truyền thống lâu đời của Giáo hội đã bị lãng quên, Công đồng muốn đặt nguồn gốc của sứ vụ không phải từ mệnh lệnh của Chúa Giêsu (Mt 28,19) nhưng là từ “suối nguồn tình yêu” (AG 2), tức là chính Thiên Chúa. Theo dòng suy tư mang nhiều trích dẫn Kinh Thánh và các giáo phụ, Công đồng nói đến cuộc tạo dựng vũ trụ như là cuộc sai đi tiên khởi, và được trở nên rõ rệt nơi cuộc Nhập thể (vì vài lý do, Công đồng không nhắc đến lịch sử của Israel mà chỉ lướt qua) rồi được trao lại cho Giáo hội (AG 2-5).

Từ suy tư tổng quát về bản chất “sứ vụ (được sai đi) của Giáo hội, sang đến số 6, văn kiện chuyển sang ý nghĩa “truyền giáo” (thừa sai) theo nghĩa chặt, đó là “rao giảng Tin Mừng và vun trồng Giáo hội nơi những dân tộc và nhóm người chưa tin nhận Chúa Kitô”. Đàng sau lời khẳng định này, Công đồng muốn dung hòa hai ý kiến liên quan đến mục tiêu của công cuộc truyền giáo vào thập niên 60 (một bên chủ trưởng dẫn đưa người ngoại đạo vào đức tin; một bên nhấn mạnh đến việc thiết lập Giáo hội tại địa phương). Văn kiện cũng muốn thay đổi một não trạng khi bàn về vấn đề truyền giáo. Vào thời ấy, nhìn từ Âu châu, “truyền giáo” đồng nghĩa với “đi ra nước ngoài”. Thế giới được chia làm hai khu vực: khu vực Kitô giáo (Âu Mỹ) và khu vực “truyền giáo” (Á châu và Phi châu). Thuật ngữ “truyền giáo” được gắn với yếu tố lãnh thổ. Tuy khái niệm này vẫn còn được duy trì trong sắc lệnh Ad Gentes, nhưng Công đồng muốn vượt lên não trạng ấy, khi gắn việc “truyền giáo” với yếu tố nhân sinh: công tác truyền giáo nhắm đến những con người, cá nhân hay cộng đoàn, chưa tin nhận Chúa Kitô, dù là ở Phi châu, Á châu, hay tại Mỹ châu và Âu châu: những người di dân, những người vô thần, những người lãnh đạm với tôn giáo, v.v…

Số 9 giải thích ý nghĩa của nỗ lực truyền giáo như thế này: “Hoạt động truyền giáo không là gì khác hơn sự biểu lộ ý định của Thiên Chúa và hoàn tất ý định ấy trên thế giới và trong lịch sử nhân loại”. Thiên Chúa “hoàn thành lịch sử cứu độ nhờ việc truyền giáo” và mục tiêu của nó là “làm cho Đấng tác thành công trình cứu độ là chính Chúa Kitô được hiện diện”. Tuy nhiên, cũng nên ghi nhận một đề tài thường được nhắc đi nhắc lại trong suốt văn kiện là sự hiện diện của Chúa Kitô không tiêu hủy văn hóa, nhưng kiện toàn nó. Lý do bởi vì trong mỗi nền văn hóa, đã có một sự hiện diện bí ẩn của Thiên Chúa mà Phúc Âm sẽ làm tỏ lộ ra, khi nó được chữa lành và nâng cao. 

Việc truyền giáo, như ta đọc thấy ở số 9 và kết luận của Chương I, có một mục tiêu cánh chung. Nó nhắm tới sự hợp nhất của nhân loại và thế giới, điều mà sẽ xảy ra vào lúc tận cùng của thời gian.

Chương Hai

Chương II mang tựa đề là “Công cuộc truyền giáo”, đưa ra vài nguyên tắc quan trọng trong tiến trình thi hành công tác truyền giáo giữa các dân tộc. Số 11-12 bàn về chứng tá Kitô hữu; số 13-14 nói đến việc rao giảng Tin Mừng; số 15-18 đề cập đến việc thiết lập các cộng đoàn cho những ai đã đón nhận Tin Mừng và đi theo Chúa Kitô. Ba hoạt động vừa rồi diễn ra trong ba bối cảnh được mô tả ở số 10, đó là: giữa những tín đồ của các tôn giáo; giữa những người không theo tín ngưỡng nào; giữa những người chống đối tôn giáo và tín ngưỡng.

Số 11 đáng được xem là một trong những đoạn hùng hồn nhất của văn kiện. Nó nói đến sự cần thiết đối với Kitô hữu phải làm chứng cho Tin Mừng bằng đời sống, sống hòa đồng với văn hóa và các giá trị của dân. Khi đã quen thân với các truyền thống dân tộc và tín ngưỡng của dân, họ hãy hoan hỉ và kính cẩn khám phá ra những “hạt giống của Lời” ẩn tàng trong đó. Thuật ngữ “hạt giống của Lời” (semina Verbi) lấy từ thánh Giustinô tử đạo, và thường được Công đồng trích dẫn. Nó muốn nói rằng công cuộc truyền giáo không diễn ra trên vùng đất hoang vu, nhưng trong bối cảnh mà Thánh Linh và Chúa Kitô đã hiện diện cách huyền nhiệm. Vì thế, các vị thừa sai cần biết “chân thành và kiên nhẫn đối thoại” ngõ hầu khám phá “những kho tàng và Thiên Chúa tốt lành đã phân phát cho các dân tộc trên thế giới”.

Chính vì tính thánh thiện cơ bản của các dân tộc, sự tôn trọng lịch sử và văn hóa của họ mà Công đồng triệt để ngăn cấm mọi hình thức chiêu dụ (proselytism) thúc bách người ta theo đạo hoặc dùng những mánh khóe để lừa đảo họ (AG 13). Công đồng bênh vực quyền tự do tín ngưỡng, cũng như khẳng định rằng hết mọi người đều có quyền không bị người khác tước đoạt niềm tin bằng những quấy nhiễu bất công (AG 13).

Một tiêu điểm quan trọng của hoạt động truyền giáo là thiết lập một cộng đoàn Kitô hữu sinh động – nghĩa là theo kiểu nói của Đức thánh cha Phaolô VI mười năm sau đó trong tông huấn Evangelii Nuntiandi – một cộng đoàn đến lượt mình sẽ lên đường loan báo Tin Mừng (EN 15). Các số 15-18 của AG đề cập đến việc xây dựng một cộng đoàn như vậy. Nó nhấn mạnh đến tầm quan trọng của ơn gọi giáo dân, ơn gọi các nam nữ tu sĩ và các giáo sĩ, và việc đào tạo các giáo sĩ. Số 16 vọng lại Hiến chế Lumen Gentium về việc khôi phục các phó tế vĩnh viễn nếu Hội đồng giám mục xét là cần. Sau hết, số 17 nêu bật vai trò các giáo lý viên và việc đào tạo dành cho họ.

Chương Ba

Chương III bàn về “các Giáo hội địa phương” vẫn còn trong tình trạng truyền giáo, nghĩa là chưa sẵn sàng tự lập xét vì con số các tín hữu, hàng giáo sĩ bản xứ, hoặc nguồn tài chính. Mặc dù vậy, Công đồng nhấn mạnh đó là những “Giáo hội” đúng nghĩa và cần phải được đối xử như vậy. Như vậy là Công đồng muốn sửa đổi quan niệm coi “Giáo hội ở miền truyền giáo” là bất toàn. Chương này được viết dựa trên một nền tảng vững chắc của thần học về Giáo hội địa phương.

Số 20 nói đến giám mục và hàng giáo sĩ. Giám mục phải là người “loan truyền đức tin”, và các giáo sĩ không chỉ dấn thân vào công tác mục vụ mà còn hãy lưu ý đến việc rao giảng đức tin cho những người trong giáo phận chưa chấp nhận Chúa Kitô. Số 21 là một suy tư về các giáo dân, nhấn mạnh rằng “Giáo hội chưa được thực sự thiết lập, chưa thực sự trở nên sống động và trở nên dấu chỉ của Chúa Kitô giữa nhân loại bao lâu các giáo dân chưa hợp tác với hàng giáo phẩm”. Vai trò chính của các giáo dân là làm chứng tá trong đời sống hàng ngày, và văn kiện nhấn mạnh rằng điều này cần được thực hiện trong bối cảnh của nền văn hóa của mình. Ad Gentes nói đi nói lại là cộng đoàn Kitô hữu không được phép thoát khỏi thế giới nhưng cần sống trong thế giới và góp phần xây dựng thế giới.

Số cuối cùng của chương này khuyến khích sự phát triển thần học địa phương (ngày nay gọi là “hội nhập văn hóa” nhưng lúc ấy còn dùng từ ngữ “thích nghi vào văn hóa”), với một hình ảnh rất đẹp được dùng trong phụng vụ mùa Giáng sinh, đó là “tiếp nhận những sự phong phú của các dân tộc đã được ban cho Chúa Kitô làm sản nghiệp” (x. Tv 2,8). Như vậy sẽ nhận thấy rõ ràng thế nào là đức tin tìm kiếm sự hiểu biết (AG 22) trong bối cảnh của triết lý, minh tuệ, phong tục và thế giới quan của các dân tộc địa phương.

Chương Bốn

Tựa đề của chương này là “các thừa sai”, nhắm đến việc huấn luyện các nhân viên truyền giáo tương lai, bất kỳ là linh mục, nam nữ tu sĩ, giáo dân, người nước ngoài hay người bản địa.

Tuy rằng mỗi người Kitô hữu được mời gọi tham gia vào việc quảng bá đức tin bằng lời nói và nhất là bằng việc làm (AG 23), nhưng trong Giáo hội, có một ơn gọi đặc biệt nhờ đó người tín hữu lìa bỏ quê hương hay nơi mà mình được sinh ra và dưỡng dục để rao giảng Tin Mừng cho những dân tộc khác. Đây là một ân huệ của Thánh Linh, nhưng con số đặc sủng này vẫn còn thiếu. Những thừa sai tương lai cũng cần được đào tạo đặc biệt về tâm linh và luân lý (AG 25) ngõ hầu phát triển lòng quảng đại, tính cởi mở và tinh thần hy sinh. Các thừa sai cũng cần được huấn luyện về thần học, vừa mang tính phổ quát của Giáo hội vừa quan tâm đến nét riêng biệt của các dân tộc (AG 26). Nhất là, vị thừa sai tương lai cần được huấn luyện về “truyền giáo học”, bao gồm cả giáo huấn Giáo hội về hoạt động truyền giáo cũng như về lịch sử truyền giáo, và tuy không nói minh nhiên nhưng cũng hiểu ngậm về các khoa học xã hội, cách riêng là nhân-học: “Phàm ai sắp lên đường gặp gỡ các dân tộc khác thì cần phải biết tôn trọng gia sản, ngôn ngữ và truyền thống của dân tộc ấy” (AG 26).

Chương Năm

Mang tựa đề là “Thảo hoạch hoạt động truyền giáo”, chương này đã gây ra nhiều tranh cãi trong thời gian biên soạn, bởi vì liên quan đến việc tái cấu trúc Bộ Truyền bá đức tin , và muốn trao cho các giám mục thuộc thầm quyền của Bộ được góp ý nhiều hơn trong việc phát triển Giáo hội của mình.

Việc tái cấu trúc Bộ Truyền bá đức tin nằm trong bối cảnh của quan niệm thần học mới về việc điều hành công cuộc truyền giáo. Mở đầu chương này, số 28 tuyến bố rằng tất cả mọi Kitô hữu, tùy theo ân huệ được ban, đều được mời tham gia vào sứ vụ của Giáo hội. Tuy nhiên, hoạt động của tất cả các tín hữu cần được điều hành ngõ hầu “mọi sự diễn ra trong trật tự” (x. 1Cr 14,40). Việc điều hành này trước hết thuộc về toàn thể giám mục đoàn, như LG 23 đã dạy. Vì thế, để thực thi trách nhiệm tập đoàn này, Công đồng quyết định rằng Hội đồng thường trực của các giám mục toàn thế giới (tức là Thượng Hội đồng Giám mục), cần phải đưa ra những đường hướng cho hoạt động truyền giáo của Giáo hội. Do đó, Bộ Truyền bá Đức tin điều khiển công cuộc truyền giáo trong tư cách là thừa hành toàn thể Giáo hội nói chung và tập đoàn giám mục nói riêng.

Đoạn văn ở cuối số 29 gây ra nhiều tranh luận sôi nổi hơn cả trong thời gian soạn thảo cũng như tại nghị trường. Đoạn văn này tuyên bố rằng ở trong ban điều hành của Bộ cần có đại diện của các giám mục thế giới, giám đốc các hội giáo hoàng hỗ trợ công tác truyền giáo, các hội dòng truyền giáo và các tổ chức giáo dân. Bản dự thảo trước đó yêu cầu những người này phải là “thành viên” của Bộ, nhưng không được Công đồng chấp thuận. Tuy vậy, đã rõ là những nhân vật ấy giữ phần tích cực, với phiếu biểu quyết, trong tiến trình quyết định lập kế hoạch hoạt động.

Thật là một cuộc tái cấu trúc triệt để, nhưng phải đau buồn nhìn nhận rằng định hướng của Ad Gentes chưa hề được thực thi. Vào những năm sau Công đồng, nhiều văn thư đã dần dần giảm bớt vai trò của các cơ quan ấy. Nói cách khác, cơ cấu của Bộ Truyền bá đức tin không có gì thay đổi so với thời kỳ trước Công đồng.

Chương Sáu

Chương cuối cùng bàn về “Sự hợp tác truyền giáo”, nghĩa là bằng cách nào các Kitô hữu góp phần vào hoạt động truyền giáo của Giáo hội. Trước hết, Công đồng lặp lại vai trò của toàn thể Giáo hội, tiếp theo là của các giám mục và linh mục, các tu sĩ thuộc dòng hoạt động cũng như chiêm niệm, và cuối cùng là của các giáo dân. Tuy nhiên, có một khoảng cách giữa chương này với lời tuyên bố về bản chất truyền giáo của Giáo hội địa phương ở chương II. Ở đây, “truyền giáo” vẫn mang nghĩa là “truyền giáo hải ngoại”, tức là vẫn còn phân biệt giữa “truyền giáo nội địa” và các “nước truyền giáo”.

Thiết tưởng có hai điều đáng nêu bật trong chương này. Thứ nhất, số 30 suy tư về chiều kích truyền giáo nằm trong chức linh mục. Xét vì các linh mục hợp tác với các giám mục trong việc điều hành Giáo hội, cho nên một cách nào đó, các linh mục cũng có trách nhiệm đối với sứ vụ của toàn thể Giáo hội. Vì thế, tác vụ của họ cũng bao gồm việc gây ý thức truyền giáo nơi các tín hữu, cổ võ các ơn gọi truyền giáo và tài trợ cho công cuộc truyền giáo. Thứ hai, văn kiện đề cao bản chất truyền giáo của các dòng chiêm niệm. Người ta thường nghĩ rằng hoạt động truyền giáo là đặc trưng của những dòng hoạt động; nhưng Công đồng nhấn mạnh rằng, các dòng chiêm niệm cũng là thành phần cốt yếu của hoạt động truyền giáo. Xét vì chính Thiên Chúa mới là Đấng mở lòng con người để đón nhận sứ điệp Tin Mừng, cho nên những lời cầu nguyện, những đau khổ, những việc hãm mình mà các cộng đồng tu sĩ nam nữ dâng tiến đều góp phần to lớn cho việc trở lại của những người ngoại đạo. Bản văn khuyến khích các dòng chiêm niệm hãy thiết lập cộng đoàn tại Á châu, Phi, Mỹ Latinh, và Đại dương, ngõ hầu khi sống đời tu theo đường lối phù hợp với những truyền thống của các dân tộc, họ có thể mang lại chứng từ cao quý cho những người ngoài Kitô giáo về sự cao cả và tình thương của Thiên Chúa cũng như sự kết hợp của chúng ta với Chúa Kitô (AG 40).

Ad Gentes khép lại với lời chào thăm tất cả các vị thừa sai, đặc biệt những người đang bị bách hại. Một lần nữa, Công đồng nhắc lại tầm quan trọng của việc Giáo hội tham gia vào công cuộc truyền giáo, nhưng đồng thời một lần nữa cũng lặp lại rằng việc truyền giáo tiên vàn là công cuộc của Thiên Chúa. Các giám mục cầu xin cho thế giới trở lại với Tin Mừng, nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria, Nữ vương các Tông đồ. Sau cùng Công đồng tuyên bố mọi sự thay đổi về pháp luật chỉ có hiệu lực từ ngày 29-6-1966, và Đức thánh cha sẽ ban hành những quy tắc cần thiết cho việc thực thi.

Kết luận

Như cha Roger Schroeder nhận xét trong chương kế tiếp, Công đồng Vaticanô II đã khai mào một “chặng dậy men” trong tư tưởng và thực hành của việc truyền giáo, nhưng điều trớ trêu là nó được tiếp nối với “chặng khủng hoảng” đòi xét lại vấn đề truyền giáo, phần nào do những tuyên bố của Công đồng về tự do tín ngưỡng, tôn trọng văn hóa địa phương, và con người có thể được cứu độ ngoài Giáo hội. Trong khi chặng khủng hoảng phần nào đang tiếp diễn thì một “chặng tái sinh” cũng ló dạng, trong đó việc truyền giáo diễn ra một cách ôn hòa hơn, kèm theo các yếu tố đối thoại, công bình, vãn hồi hòa bình, nhạy bén với môi sinh, phục vụ di dân, và hòa giải. Nhiều điều đã thay đổi trong vòng 50 năm kể từ khi bế mạc Công đồng, có lẽ cách triệt để hơn cả là việc truyền giáo được thực hiện nhiều hơn qua những cam kết ngắn hạn, với sự tham gia đông đảo hơn của các giáo dân, bởi những người từ “vùng truyền giáo” sang vùng “đạo gốc”. Bộ mặt truyền giáo ngày nay khác nhiều so với năm 1965 khi sắc lệnh Ad Gentes được ban hành. Dù vậy, vẫn có nét liên tục: tất cả đều bắt nguồn từ biến cố tuyệt vời là Công đồng Vaticanô II.

III. GIÁO HUẤN HỘI THÁNH VỀ TRUYỀN GIÁO SAU VATICANÔ II : 1975-2007

Roger P. Schroeder, S.V.D.

Trong một bài viết về sự thay đổi về quan điểm và thực hành truyền giáo của Giáo hội Công giáo ở thế kỷ XX, Robert Schreiter  đã phân chia thành bốn chặng: xác tín, dậy men, khủng hoảng, tái sinh. Chặng thứ nhất bao gồm thế kỷ XIX và tiền bán thế kỷ XX. Công đồng Vaticanô II đánh dấu chặng dậy men. Hai phần trước đây đã đề cập giáo huấn Hội thánh trong chặng xác tín của thế kỷ XX (1919-1959) và chặng dậy men của Vaticanô II (1959-1965).

Thập niên chuyển mình sau Vaticanô II

Schreiter gọi thập niên sau Công đồng (1965-1975) là chặng khủng hoảng về truyền giáo. Thế giới đang chuyển biến: phong trào nhân quyền tại Hoa Kỳ, cuộc cách mạng văn hóa bên Trung Quốc, Chiến tranh sáu ngày ở Trung Đông, Mùa Xuân Praha ở Tiệp Khắc, cuộc nổi dậy của sinh viên ở Mêxicô. Trong Giáo hội cũng có nhiều nhân tố góp phần cho cuộc khủng hoàng. Việc hồi tục của nhiều linh mục và tu sĩ đã làm suy giảm nhân số các thừa sai. Cuộc chấm dứt chế độ thuộc địa, mà công cuộc truyền giáo thường được gắn kết, cũng khiến cho nhiều người kêu gọi kết liễu việc truyền giáo, hoặc ít là một đường lối truyền giáo. Ngoài ra, những biến chuyển thần học của Công đồng – việc nhìn nhận bản chất truyền giáo của toàn Giáo hội (AG 2), sự hiện diện của Thiên Chúa trong thế giới như là các dấu chỉ thời đại (GS 4), sự cần thiết của việc đối thoại và hợp tác với các tín đồ các tôn giáo khác (NA 2), và khả năng có thể được cứu độ ngoài Hội thánh (LG 16) – đã cắt đứt những động lực trước Công đồng về việc cứu độ các linh hồn và về việc thiết lập Giáo hội hữu hình.

Cần phải phát triển một thần học và thực hành mới về truyền giáo. Cha Schreiter đánh dấu khởi đầu của chặng “tái sinh” là năm 1975 với Tông huấn Evangelii Nuntiandi (EN) của Đức thánh cha Phaolô VI. Tuy nhiên, cần ghi nhận một vài chuyển động góp phần vào việc tái sinh đã manh nha từ chặng khủng hoảng. Năm 1968, Liên Hội đồng giám mục Mỹ châu Latinh (CELAM) họp tại Medellin (Colombia) đã phân tích và suy nghĩ về thực trạng của Mỹ châu Latinh, và đã thảo ra một kế hoạch hành động vượt lên trên những khái niệm phát triển và cách mạng đến chỗ biến đổi các cơ cấu bất công. Điều này đã tác dụng đến Giáo hội phổ quát bởi vì Thượng hội đồng giám mục năm 1971 tại Rôma đã khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa công lý và loan báo Tin Mừng. Nhiều sự tiến triển mới cũng chớm nở tại những lục địa khác: các tín hữu tại Á châu chú trọng đến đối thoại liên tôn; Phi châu quan tâm đến đức tin và văn hóa; Âu châu, Bắc Mỹ và Úc châu để ý đến Kitô giáo và sự tục hóa; quần đảo Thái bình dương nghĩ đến tác dụng của các biến đổi xã hội nhanh chóng. Các cộng đoàn cơ bản cũng phát triển, và việc học hỏi Kinh Thánh cũng gia tăng trong Giáo hội Công giáo trên khắp thế giới.

Thập niên sau Công đồng Vaticanô II là một thời chuyển tiếp mang dấu vết của sự phá vỡ và xây dựng (xem Gv 3,3). Bây giờ chúng ta chuyển sang chặng “tái sinh” trong quan điểm truyền giáo dựa theo các văn kiện chính thức của Giáo hội, khởi đầu với Evangelii Nuntiandi năm 1975 và kết thúc với văn kiện “Ghi chú đạo lý về một vài khía cạnh của việc Loan báo Tin Mừng” năm 2007. 

A. Evangelii Nuntiandi (1975)

Đức thánh cha Phaolô VI triệu tập Thượng hội đồng năm 1974 để bàn về việc “Loan báo Tin Mừng trong thế giới hiện đại”. Đúc kết những ý kiến của các nghị phụ (với tỷ lệ các giám mục miền “đạo gốc” cao hơn thời kỳ họp Công đồng), Đức thánh cha đã soạn và ban hành Tông huấn Evangelii Nuntiandi (EN) năm 1975. Có lẽ vì muốn tránh đồng hóa “truyền giáo” với “thuộc địa” cho nên thuật ngữ “loan báo Tin Mừng” (evangelization) được dùng thay cho “truyền giáo” (mission). Tuy rằng việc loan báo Tin Mừng có thể hiểu theo nghĩa hẹp là công bố sứ điệp Phúc Âm bằng lời nói và chứng tá, nhưng ở đây Đức Phaolô VI muốn hiểu theo một nghĩa rất rộng, bao gồm hết mọi hình thức của việc truyền đạo; hiểu như vậy, hai từ ngữ loan báo Tin Mừng (evangelization) và “truyền giáo” (mission) coi như đồng nghĩa. Chúng tôi muốn nêu bật ba đóng góp quan trọng nhất của tông huấn vào việc hiểu biết sứ vụ .

1. Hội thánh tiếp tục sứ vụ của Chúa Giêsu

Trong chương mở đầu, EN khẳng định bản tính truyền giáo của Giáo hội mà Vaticanô II đã tái khám phá. Tuy nhiên, thay vì đặt nền tảng của khẳng định này trên mầu nhiệm Tam Vị (missio Dei), giống như Ad Gentes [AG], Đức Phaolô VI lấy trọng tâm là vương quốc Thiên Chúa. “Như một người loan báo Tin Mừng, trước hết Đức Kitô loan báo một vương quốc, vương quốc của Thiên Chúa, và điều này trở nên quan trọng đến nỗi khi so sánh với nó, tất cả những cái khác đều là ‘phần còn lại, và sẽ được ban thêm’. Vì vậy, duy chỉ Vương quốc mới tuyệt đối, khiến cho mọi điều khác trở nên tương đối” (EN 8). Vương quốc Thiên Chúa là trọng tâm của sứ vụ Đức Giêsu, trong lời giảng (các dụ ngôn), trong các hành động (cách riêng là chữa bệnh và trừ tà) và thái độ (cách riêng là ngồi đồng bàn). Những ai chấp nhận Tin Mừng và tìm kiếm vương quốc “họp thành một cộng đoàn và đến lượt mình trở thành kẻ loan báo Tin Mừng” (số 13). Như vậy, “loan báo Tin Mừng là hồng ân và ơn gọi riêng của Giáo hội, căn tính sâu sắc nhất của mình” (14).

Đức thánh cha rút ra vài hệ luận về bản tính truyền giáo của Giáo hội. Trước hết, Giáo hội cần “bắt đầu với việc Tin Mừng hóa chính mình ... qua việc hoán cải và đổi mới không ngừng, ngõ hầu có khả năng loan báo Tin Mừng cách khả tín” (15). Thứ hai, có một mối liên hệ và liên tục chặt chẽ giữa sứ vụ Đức Giêsu đối với vương quyền Thiên Chúa và Giáo hội, là thành quả trực tiếp và hữu hình nhất của công trình của Đức Giêsu. Để trả lời cho những người tách rời lòng yêu mến Chúa Kitô khỏi Giáo hội, EN trả lời rằng không thể nào tách rời hai thực thể ấy. Vì thế, việc loan báo Tin Mừng là một công việc của Giáo hội và không thể nào thực thi mà không có Giáo hội, phương chi là chống lại Giáo hội (16). Thứ ba, bởi vì toàn thể Giáo hội mang bản tính truyền giáo, cho nên mỗi người trong Giáo hội phải tham gia vào sứ vụ của Giáo hội, “và công việc của mỗi cá nhân đều quan trọng cho toàn thể” (15). Như vậy, tuy không nói minh thị, nhưng hiểu rằng bí tích Thánh tẩy (cũng như Giáo hội) tự bản tính là truyền giáo. 

2. Thực chất đa dạng của việc loan báo Tin Mừng

Sự đóng góp quan trọng thứ hai của EN là quan niệm mở rộng của việc truyền giáo, đến nỗi không chỉ gồm việc rao giảng trực tiếp và vun trồng Giáo hội, mà còn bao hàm nhiều hoạt động khác. Trong khi AG chỉ phớt qua khái niệm mở rộng này, thì EN đi xa hơn. Để trả lời cho khuynh hướng muốn thu hẹp việc loan báo Tin Mừng vào việc công bố Chúa Kitô cho những ai chưa biết Người, Đức Phaolô VI tuyên bố rằng “bất kỳ định nghĩa nào muốn thu hẹp hoặc phân mảnh việc loan báo Tin Mừng thì đều có nguy cơ làm nghèo và thậm chí bóp méo nó. Ta chỉ có thể nắm bắt khái niệm về loan báo Tin Mừng khi đào sâu tất cả những yếu tố cốt yếu của nó” (17).

Tuy rằng việc rao giảng là điều thiết yếu nhưng nó chỉ là một khía cạnh của việc loan báo Tin Mừng (22). Chương hai mô tả các “yếu tố cốt yếu khác”. Loan báo Tin Mừng có nghĩa là đem Tin Mừng vào tất cả mọi giai tầng của nhân loại, với hy vọng đưa tới sự hoán cải lương tâm cá nhân và tập thể của dân tộc, đời sống và môi trường của họ (18). Đức Phaolô VI mô tả điểm này như là “Tin mừng hóa các nền văn hóa”, không chỉ như quét một vỏ sơn bên ngoài, nhưng đâm sâu tận cội rễ (20). Ngoài ra, EN nhấn mạnh đến sự cần thiết tuyệt đối của chứng tá của các cộng đoàn và cá nhân như là “sự công bố Tin Mừng cách thầm lặng” (21).

3. Loan báo Tin Mừng và giải phóng

Việc mở rộng khái niệm truyền giáo như thế đưa đến sự đóng góp thứ ba của EN: Loan báo Tin Mừng cũng bao gồm dấn thân vào việc thăng tiến con người và giải phóng (31). Dựa trên kết luận của Thượng Hội đồng họp bốn năm trước (1971) theo đó công lý là một chiều kích cốt yếu của việc rao giảng Tin Mừng, Đức Phaolô VI tuyên bố rằng, “việc loan báo Tin Mừng bao hàm một sứ điệp … về những quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi cá nhân con người, về đời sống gia đình mà nếu thiếu thì khó lòng nói đến sự phát triển cá nhân, về đời sống trong xã hội, về đời sống quốc tế, hòa bình, công lý và phát triển – một sứ điệp rất hùng hồn thời nay về cuộc giải phóng” (29). Đây là lần đầu tiên từ “giải phóng” (liberation) xuất hiện trong một văn kiện Tòa thánh, cho thấy ảnh hưởng của thần học giải phóng rất mạnh vào thập niên 70.

Tông huấn nhấn mạnh đến sự quân bình giữa loan báo Tin Mừng và giải phóng. Trước hết, không thể nào thu gọn việc truyền giáo vào chiều kích thuần túy thế tạm (32). Chiều kích tâm linh là nguồn mạch cho sự giải phóng con người cách sâu đậm. Thứ hai, Giáo hội chống lại việc sử dụng bạo lực, bởi vì bạo lực phát sinh ra bạo lực, và phát sinh ra những hình thức đàn áp và ức chế mới còn tệ hơn những hình thức mà người ta muốn thoát khỏi” (số 37).

Qua ba điểm vừa nêu bật, người ta hiểu được vì sao EN được xem như là “Hiến chương” cho cuộc tái sinh khái niệm truyền giáo. Bây giờ chúng ta bước sang văn kiện khác ra đời 15 năm sau đó.

B. Redemptoris Missio (1990)

Thông điệp Redemptoris Missio (RM) được ký vào ngày 7-12-1990, hôm trước kỷ niệm 25 năm Ad Gentes (AG) và 15 năm Evangelii nuintiandi (EN). Dưới khía cạnh Truyền giáo học, đây là văn kiện quan trọng nhất của triều đại Giáo hoàng Gioan Phaolô II, và trình bày cách hệ thống nhất suy tư về việc truyền giáo.

Tuy nhìn nhận rằng có nhiều tiến triển về truyền giáo trong vòng 15 năm qua kể từ EN, Đức Thánh Cha tỏ ra lo âu vì vài nhà thần học và thừa sai đã không nêu bật đúng mức ý nghĩa của Đức Kitô và của Giáo hội. Trước hết, việc nhấn mạnh đến sự thánh thiện của thế giới, của các nền văn hóa và tôn giáo dựa theo nền tảng Tam Vị của AG có thể đưa đến việc coi nhẹ vai trò của Đức Giêsu như là vị Cứu tinh duy nhất và vị xét xử các nền văn hóa. Thứ hai, việc đề cao quá mức về sứ vụ toàn diện dựa trên nền tảng vương quốc Thiên Chúa theo EN có thể làm giảm nhẹ tầm quan trọng của Giáo hội trong sứ vụ. Thứ ba, việc nhấn mạnh đến chiều kích phổ cập của sứ vụ Giáo hội và các hình thức đa dạng của việc truyền giáo có thể dẫn đến sự bỏ rơi hình thức truyền giáo cho dân ngoại và việc loan báo Tin Mừng. Đức Gioan Phaolô II trở lại với khái niệm “sứ vụ” nhìn dưới nhiều khía cạnh, cũng như khái niệm “loan báo Tin Mừng” hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Xét vì việc tóm lược thông điệp, dù cách vắn tắt đi nữa, cũng sẽ vượt quá khuôn khổ của bài này , cho nên chúng tôi chỉ nêu bật ba khía cạnh quan trọng để hiểu rõ về truyền giáo theo RM, cũng như là áp dụng trên đây cho EN.

1. Hướng về Chúa Kitô làm trọng tâm

Để trả lời cho ba mối quan tâm vừa nói trên, Thông điệp trình bày nền tảng của việc truyền giáo dựa trên một nền thần học quy về Đức Kitô, cách riêng trong chương I. Tuy vẫn khẳng định giáo huấn của Vaticanô II rằng, con người có thể được cứu độ mặc dù không có đức tin minh thị vào Đức Kitô (RM 10), nhưng cần phải thêm rằng mọi ân sủng đều được ban qua Đức Kitô và chỉ qua Người mà thôi. “Vì thế, không ai có thể hiệp thông với Thiên Chúa mà không qua Đức Kitô, nhờ tác động của Thánh Linh ... Tuy có thể nhìn nhận những hình thức và cấp độ trung gian khác nhau, nhưng các hình thái trung gian ấy chỉ có ý nghĩa và giá trị nhờ sự trung gian của Đức Kitô mà thôi, chứ không được phép coi như song hành hoặc bổ sung cho Người” (5). Ngoài ra, Giáo hội đã được thiết lập như là bí tích phổ quát của ơn cứu độ (9). Nhân loại có quyền được tiếp nhận sự thật và sự sống do Tin Mừng mang đến, tuy phải theo một đường lối tôn trọng tự do của con người (7-8).

Trong chương II, thông điệp khẳng định vị trí trọng tâm của vương quốc Thiên Chúa trong lời giảng và cuộc đời của Đức Giêsu. Dù rằng Giáo hội không phải là cứu cánh cho chính mình (19), nhưng không thể nào tách rời Vương quốc khỏi Đức Kitô và khỏi Giáo hội (18). Chương III khai triển thần học về Tam Vị của AG và nhấn mạnh đến Thánh Linh như là tác nhân chính của cuộc loan báo Tin Mừng. “Sự hiện diện của Thánh Linh chi phối không những các cá nhân mà còn xã hội, lịch sử, các dân tộc, các nền văn hóa và tôn giáo” (28). Ngoài ra, thông điệp nhấn mạnh rằng đó cũng chính là Thánh Linh của Đức Kitô, và “không được phép tách rời tác động phổ cập của Thánh Linh … ra khỏi Giáo hội” (29). Ba chương đầu mang tính nền tảng cho thần học truyền giáo, dựa trên AG và EN, nêu bật vai trò của Chúa Kitô và sự cần thiết phải loan báo Đức Kitô là chủ tể. Để trả lời cho câu hỏi “tại sao phải truyền giáo?”, Thông điệp trả lời dựa vào thánh Phaolô rằng, “bởi vì ân huệ đã được ban cho chúng ta, đó là rao giảng cho muôn dân Tin Mừng về sự phong phú khôn lường của Chúa Kitô” (Ep 3,8) (11).

2. Mở rộng khái niệm truyền giáo

Thông điệp khai triển khái niệm truyền giáo theo hướng “những chân trời” (chương IV) và “những nẻo đường” truyền giáo (chương V). Liên quan đến các “chân trời” hoặc “hoàn cảnh”. Đứng đầu là “truyền giáo cho dân ngoại” (ad gentes), nghĩa là làm chứng và công bố Tin Mừng ở nơi nào Chúa Kitô chưa được biết đến hoặc ở nơi mà Giáo hội chưa được trưởng thành đủ để cho đức tin thấm nhập vào môi trường của mình và loan báo cho những nhóm khác (RM 33). Đây là truyền giáo theo nghĩa chặt. “Hoàn cảnh” thứ hai được mô tả là công tác mục vụ dành cho các tín hữu, và “hoàn cảnh” thứ ba là nơi một thời đã theo đạo mà nay không còn nữa. Việc truyền giáo cho “chân trời” thứ ba mang tên là “loan báo Tin Mừng cách mới mẻ” hoặc “tái loan báo Tin Mừng” (33). Tuy truyền giáo theo nghĩa chặt được dành cho “dân ngoại”, nhưng phạm trù này có thể được hiểu về các môi trường như là đô thị, giới trẻ, các cộng đồng di dân và người nghèo (37b). Ngoài ra, khi thuật lại cảnh thánh Phaolô thuyết giảng tại nghị viện Athens, Đức Gioan Phaolô II nhấn mạnh đến việc đáp ứng cách sáng tạo cho các “nghị viện” thời nay, nghĩa là các môi trường văn hóa, tựa như thế giới truyền thông xã hội, cũng như các phong trào tranh đấu cho hòa bình, phát triển và giải phóng dân tộc, các phong trào tranh đấu cho quyền lợi cá nhân và dân tộc, đặc biệt các dân tộc thiểu số, sự thăng tiến phụ nữ và thiếu nhi, việc bảo vệ sinh thái (37c). Thông điệp chú trọng đến tầm quan trọng của việc truyền giáo cho dân ngoại, và đồng thời mở rộng phạm vi của nó.

Thứ hai, RM mô tả những “nẻo đường” của việc truyền giáo là một thực tại duy nhất nhưng đa dạng (41). Hình thức thứ nhất của việc loan báo Tin Mừng là chứng tá, chứng tá của các cá nhân, gia đình, cộng đoàn Kitô hữu (42), và đứng hàng đầu là việc loan báo (44). Điều này có thể đưa đến sự trở lại, rửa tội và xây dựng cộng đồng địa phương (46-49). Thông điệp còn thêm những nẻo đường khác nữa, tựa như hội nhập văn hóa, đối thoại liên tôn, phát triển nhân bản và công tác bác ái (52-60). Khi bàn về các “nẻo đường” và các “chân trời”, thông điệp đã giải thích và mở rộng khái niệm của Công đồng Vaticanô II về truyền giáo “thuộc về bản tính của Giáo hội”.

3. Đối thoại liên tôn

Đối thoại liên tôn được coi như sự đóng góp quan trọng thứ ba của RM, bởi vì đề tài này tương đối còn mới mẻ trong giáo huấn của Giáo hội. Số 53 của EN đã tái khẳng định tính tích cực của các tôn giáo nhưng không đi sâu vào vấn đề. Năm 1984, Văn phòng “đặc trách những người ngoài Kitô giáo” đã coi việc đối thoại liên tôn như một thành phần của công cuộc loan báo Tin Mừng trong văn kiện mang tựa đề là “Đối thoại và Truyền giáo” (Dialogue and Mission), (DM 1984). Tuy nhiên, RM là thông điệp giáo hoàng đầu tiên đã coi việc đối thoại ấy như là thành phần của sứ vụ loan báo Tin Mừng (55).

Đức Gioan Phaolô II tuyên bố rằng việc đối thoại liên tôn ăn khớp với những khía cạnh khác của truyền giáo. Giáo hội dấn thân vào cuộc đối thoại bởi vì nhìn nhận sự hiện diện của Thiên Chúa nơi các tôn giáo, nhưng điều này không loại trừ niềm tin rằng “ơn cứu độ được ban qua Chúa Kitô” (55). Việc đối thoại không bỏ qua việc loan báo Tin Mừng: khi gặp gỡ các tín đồ của tôn giáo khác, người Công giáo thâm tín rằng “Giáo hội là phương thế thông thường của ơn cứu độ và Giáo hội có những phương thế dồi dào của sự cứu độ” (55). Tuy nhiên, Thông điệp tuyên bố rằng việc đối thoại không dựa trên chiến thuật lợi ích, nhưng dựa trên sự tôn trọng hoạt động của Thánh Linh nơi người khác (56). Những ai dấn thân vào cuộc đối thoại cần phải đến với người khác, không phải với thiên kiến hoặc thiển cận, nhưng với lòng tôn trọng sự thật, khiêm tốn và thẳng thắn, biết rằng việc đối thoại có thể làm phong phú cho cả đôi bên (56). Thông điệp cũng thêm rằng việc đối thoại không chỉ dành cho các chuyên viên, nhưng các Kitô hữu có thể thực hành trong đời sống hàng ngày.

Còn nhiều điều khác có thể viết về quan điểm truyền giáo theo RM, nhưng ba điều vừa kể có lẽ là quan trọng nhất. 

C. Dialogue and Proclamation (1991)

Hội đồng Tòa thánh đặc trách đối thoại liên tôn vào năm 1984 (dưới danh xưng Văn phòng đặc trách những người ngoài Kitô giáo) đã công bố văn kiện về đối thoại và truyền giáo, vài tháng sau khi thông điệp RM được ban hành, đã cùng với Bộ Loan báo Tin Mừng phát hành văn kiện mang tựa đề “Dialogue and Proclamation (DP) – Đối thoại và Loan truyền”. Thông điệp đã đề cập đến mối liên hệ giữa đối thoại liên tôn và loan báo Tin Mừng, nhưng văn kiện DP đào sâu hơn mối tương tác linh động giữa đôi bên. Văn kiện gồm ba phần: phần Một bàn về đối thoại, phần Hai bàn về loan báo, phần Ba nói đến tương quan giữa đôi bên. Đối thoại được bàn ở phần Một, không phải vì vị trí ưu tiên, nhưng vì văn kiện bắt nguồn từ Hội đồng đặc trách đối thoại. Cả hai khía cạnh (đối thoại và loan truyền) của việc truyền giáo đều nằm trong tác động của Thiên Chúa. Thiên Chúa luôn ban ơn cứu độ cho nhân loại, nhưng luôn dưới hình thức đối thoại, nghĩa là mời gọi (x. DP 38).

Trước hết, văn kiện trình bày thần học về các tôn giáo và bốn hình thức đối thoại: đối thoại bằng đời sống, hành động, trao đổi thần học, cảm nghiệm tâm linh (DP 42). Về phía các Kitô hữu, việc đối thoại đòi hỏi sự quân bình, thâm tín, mở rộng đến chân lý, và tin tưởng vào kết quả (47-50). Các trở ngại của cuộc đối thoại liên tôn có thể là thiếu hiểu biết về đạo của mình hoặc là đạo của bên kia, những dị biệt về văn hóa, những yếu tố xã hội chính trị, sự hiểu lầm về cải đạo, phép rửa và đối thoại (52). Dù vậy, bất chấp những khó khăn, việc Giáo hội dấn thân vào cuộc đối thoại là điều chắc chắn và không thể thoái lui (54).

Phần thứ hai của DP bàn về sự loan báo, trước tiên nói đến mệnh lệnh, nội dung, sự cần thiết. Xét về cách thức, văn kiện nhắc nhở rằng, những người nghe rất có thể đã được Thánh Linh đụng chạm đến và đã được liên kết cách huyền nhiệm với mầu nhiệm Vượt qua của Đức Kitô (DP 68, x. Gaudium et Spes 22). Vì thế, Tin Mừng cần được loan báo làm thế nào để người nghe có thể liên kết với kinh nghiệm của mình và mời gọi đáp lại sáng khởi của Thiên Chúa. Việc loan báo, một đàng cần phải xác tín và trung thành, đàng khác phải khiêm tốn và đối thoại (70). Những trở ngại của việc đối thoại có thể là sự cách biệt giữa sứ điệp Kitô giáo và lối sống của người Kitô hữu, thiếu tôn trọng các tôn giáo khác, hoặc những yếu tố bên ngoài như là thành kiến chống lại Kitô giáo (x. 73-74).

Trong phần thứ ba, DP tóm lại tương quan giữa hai yếu tố quan trọng của truyền giáo: đối thoại và loan truyền là hai thành phần của sứ vụ loan báo Tin Mừng, dù không trên một bình diện. Cả hai đều cần thiết, có tương quan mật thiết với nhau, nhưng không thể hoán đổi. Về phía người Kitô hữu, việc đối thoại chân chính giả thiết lòng ước ao muốn cho Chúa Giêsu được nhận biết và yêu mến; việc loan báo Chúa Giêsu cần được thực hiện theo tinh thần đối thoại của Tin Mừng (77).

Kết luận: Từ Dialogue and Proclamation đến nay

Kể từ văn kiện Đối thoại và Loan truyền năm 1991, không có văn kiện chính thức nào của Tòa thánh về truyền giáo ngang tầm cỡ với EN, RM và DP. Trọng tâm của những vấn đề thần học quan trọng nhất trong vòng 20 năm qua là tương quan giữa đối thoại liên tôn và địa vị của Đức Giêsu Kitô như là Đấng Cứu Thế duy nhất. Bộ Giáo lý Đức tin đã công bố tuyên ngôn Dominus Iesus vào năm 2000 và một tài liệu tựa đề “Ghi chú đạo lý về một vài khía cạnh của việc loan báo Tin Mừng” vào năm 2007. Cả hai đều nhấn mạnh đến địa vị trọng tâm của Đức Kitô là Đấng Cứu Tinh, đến nỗi đạo lý về ân sủng ngoài Kitô giáo bị lu mờ. Tuy nhiên hai văn kiện này không nhằm trình bày thần học hệ thống về truyền giáo, nhưng chỉ muốn trả lời vài vấn đề liên quan đến chủ trương chân lý tương đối, tính cách duy nhất của Đức Kitô và vai trò của Giáo hội. Điều này cho thấy rằng các vấn đề của Kitô học rất quan trọng không những đối với việc đối thoại liên tôn mà còn đối với việc hội nhập văn hóa. 

Đối với nhiều người, văn kiện EN đánh dấu khởi đầu của cuộc tái sinh một khái niệm mới về truyền giáo trong các văn kiện chính thức của Giáo hội Công giáo. Công đồng Vaticanô II đánh dấu sự kết thúc của một giai đoạn truyền giáo và sự khởi đầu của giai đoạn kế tiếp. Sau 10 năm chuyển tiếp, dựa trên thần học về Tam Vị (missio Dei) của AG và những suy tư của Thượng Hội đồng Giám mục năm 1974 về việc loan báo Tin Mừng, Đức Phaolô VI đã ban hành Tông huấn EN chú trọng đến thần học vương quốc Thiên Chúa. 15 năm sau, trong thông điệp RM, Đức Gioan Phaolô II cung cấp một thần học hệ thống tuyệt vời về truyền giáo bằng cách kết nạp cả AG và EN, và cụ thể hơn, bằng cách trình bày thần học lấy Đức Kitô làm tâm điểm và mở rộng khái niệm truyền giáo. Một năm sau, văn kiện Đối thoại và Loan truyền tiêu biểu cho khảo luận quân bình và hệ thống về những đề tài thách thức nhất trong thời hậu Công đồng. Các văn kiện sau đó tiếp tục trả lời cho những vấn đề ấy.

Ngày nay, giáo huấn chính thức của Giáo hội Công giáo về truyền giáo dựa trên ba nền thần học về sứ vụ: việc tham dự vào sứ vụ của Thiên Chúa Tam Vị (missio Dei), việc phục vụ Vương quốc Thiên Chúa mang lại sự giải phóng, và việc công bố Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Tinh của toàn thể nhân loại. Một đàng, một thứ thần học có thể nổi bật trong một bối cảnh đặc thù nào đó; nhưng đàng khác, mỗi thứ thần học trong tính đa dạng của nó và được xây dựng trên truyền thống Kitô giáo, mang lại một sự đóng góp quan trọng cho toàn thể. Dưới viễn tượng Công giáo, chúng có thể họp thành một tổng hợp lành mạnh cho sự hiểu biết về việc truyền giáo, cung cấp nền tảng cho việc đáp lại tiếng gọi truyền giáo trong thế giới hôm nay. 

PHỤ THÊM

Bài này được viết trong khung cảnh mừng 100 năm Hội nghị về Truyền giáo (của các Giáo hội Tin Lành) tại Edinburgh (1910), trình bày quan điểm của Giáo huấn Công giáo. Dĩ nhiên, danh sách các văn kiện có thể kéo dài thêm, hoặc với những văn kiện trước Maximum Illud hoặc sau Redemptoris Missio.

Đối với các văn kiện được ban hành sau năm 2007, thiết tưởng cần phải thêm hai Tông huấn Verbum Domini (30-9-2010) của ĐGH Bênêđictô XVI về “Lời Chúa trong cuộc sống và sứ mạng của Giáo hội”, và Evangelii gaudium (24-11-2013) của ĐGH Phanxicô, gắn liền với Thượng hội đồng về “loan báo Tin Mừng cách mới mẻ”.

Ngoài ra, chúng ta không nên bỏ qua những văn kiện về Giáo huấn xã hội, bởi vì đó là một cách đưa Tin Mừng vào các thực tại trần thế hôm nay. Những văn kiện này đã được khởi xướng từ Đức thánh cha Lêô XIII, và tiếp tục với những văn kiện sau:

– Lêô XIII, Thông điệp Rerum novarum (1891)
– Piô XI, Thông điệp Quadragesimo anno (1931)
– Gioan XXIII, Thông điệp Mater et Magistra (1961); Pacem in terris (1963)
– Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio (1967); Tông thư Octogesima adveniens (1971)
– Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem exercens (1981); Sollicitudo rei socialis (1987); Centesimus annus (1991)
– Bênêđictô XVI, Thông điệp Veritas in caritate (2009)
– Phanxicô, Thông điệp Laudato sì (2015)